|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 1 của 3 1 2 3 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 3 của 8

Chủ đề: Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 26, 27, 28, 29- Di Giáo

  1. #1
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,305
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,172
    Thanked 1,773 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 26, 27, 28, 29- Di Giáo

    26. PHẨM DI GIÁO
    THỨ HAI MƯƠI SÁU


    * Di Giáo.

    Kinh văn: Lúc bấy giờ Đức Phật bảo An Nan và đại chúng : Sau khi ta diệt độ, hàng tứ chúng phải siêng hộ trì kinh Đại Bát Niết Bàn của ta. Trong vô lượng vô số kiếp ta tu tập pháp Đại Niết Bàn khó đặng nầy, nay đã giải thuyết rõ ràng cho đại chúng.

    Các người nên biết pháp Đại Niết Bàn nầy là bảo tạng Kim Cang thường , lạc, ngã, tịnh hoàn toàn viên mãn của tất cả chư Phật. Tất cả chư Phật đều ở nơi pháp Đại Niết Bàn nầy mà nhập Niết Bàn. Pháp nầy là pháp tối hậu rốt ráo chí lý cùng tột không thiếu sót. Chư Phật đều phóng xả thân mạng nơi đây, do đó nên gọi là Đại Niết Bàn.

    Đại chúng muốn đặng chơn thật báo ân Phật, mau chứng Bồ Đề, được chư Phật rờ đầu, đời đời sanh ra chẳng mất chánh niệm, thập phương chư Phật thường hiện trước mình ngày đêm giữ gìn làm cho tất cả mọi người được pháp xuất thế, thời phải siêng năng tu tập kinh Đại Niết Bàn nầy.

    Phật bảo A Nan : Lúc ta chưa thành Phật thị hiện vào trong pháp ngoại đạo của Uất Đầu Lam Phất, tu học tứ thiền bát định.

    Từ khi ta thành Phật đến nay bác bỏ những pháp ấy khuyến dụ lần lần các phái ngoại đạo, cuối cùng đến ông Tu Bạt Đà La, cho họ đều vào Phật Đạo.

    Đức Như Lai dùng đuốc đại trí đốt tràng tà kiến, như đem lá cỏ khô ném vào trong ngọn lửa lớn.

    Nầy A Nan ! Nay những người dòng Thích Ca ta rất lo nghĩ đến họ. Sau khi ta nhập Niết Bàn, ông phải siêng năng đem điều lành dạy răn, hàng quyến thuộc của ta, hết lòng dạy dỗ cho họ được diệp pháp. Chớ để họ phóng dật tán tâm chơi bời hoặc theo tà pháp.

    Người chưa thoát khỏi sự thống khổ trong ba cõi phải sớm cầu giải thoát. Phải lo sợ chốn ngũ trược ái dục nầy, một khi mất thân người rất khó được lại, trọn đời phải thường soi xét. Khó lấy tình để cầu thoát khỏi quỉ vô thường.

    Phải thương xót chúng sanh, chớ giết hại dầu là côn trùng nhỏ nhít.

    Thân nghiệp thanh tịnh thường sanh cõi tốt đẹp. Khẩu nghiệp thanh tịnh xa lìa những lỗi ác . Chớ ăn thịt, chớ uống rượu.

    Điều phục con rắn tâm cho nó vào đạo quả.

    Phải suy nghĩ kỹ nghiệp nhơn thiện ác cảm báo tốt xấu. Nhơn quả trong ba đời tuần hoàn chẳng mất, như bóng theo hình. Đời nầy luống qua về sau ăn năn không kịp.

    Giờ Niết Bàn đã đến, ta tóm tắt dạy bảo như vậy
    .
    Di Giáo, nghĩa là lời dạy bảo di chúc của Đức Phật, để sau khi Đức Phật nhập diệt, hàng đệ tử tại gia và xuất gia phải y theo mà tu hành cho đúng Chánh Pháp.

       

    Bài viết liên quan:

    Last edited by vienquang6; 19-03-2019 at 09:16 PM.
    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  2. The Following User Says Thank You to vienquang6 For This Useful Post:

    Nguyên Chiếu (12-03-2019)

  3. #2
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,305
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,172
    Thanked 1,773 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 26, 27, 28, 29- Di Giáo

    * 4 Câu hỏi tối hậu.

    Kinh văn:
    Lúc đó ngài A Nâu La Đà an ủi A Nan rằng : “ Đâu nên quá sầu khổ như vậy ! Đã đến giờ Đức Như Lai nhập Niết Bàn, ngày nay dầu có Phật, sáng mai thời đã không. Ông y theo lời tôi để thưa hỏi Đức Như Lai bốn điều.

    _ Sau khi Phật nhập Niết Bàn Lục Quần Tỳ Kheo làm việc ô tha gia, cùng Xa Nặc ác tánh, các Tỳ Kheo làm thế nào để cùng họ cộng trụ và chỉ dạy họ ?

    Đức Như Lai còn thời dùng Phật làm Thầy, Đức Như Lai đã diệt độ rồi lấy gì để làm Thầy ?

    _ Lúc Phật còn nương nơi Phật mà trụ, Như Lai đã diệt độ nương gì để trụ ?

    _ Sau khi Phật diệt độ, lúc kết tập pháp tạng, đầu các kinh phải để những lời gì ?

    A Nan như ở trong mộng nghe ngài A Nâu Lâu Đà khuyên bảo hỏi Phật bốn điều. Lần lần được tỉnh ngộ chẳng xiết buồn thảm, A Nan đem bốn điều trên hỏi Phật.

    Đức Như Lai bảo A Nan : “ Sao lại quá buồn khổ như vậy ! Chư Phật thuyết pháp giáo hóa việc làm đã xong, theo phải về nơi đây.

    Lành thay ! Lành thay ! Bốn điều ông vừa hỏi, là lời hỏi tối hậu, có lợi ích lớn cho tất cả thế gian. Các ông lóng nghe và khéo suy nghĩ ghi nhớ
    .

    Last edited by vienquang6; 19-03-2019 at 09:16 PM.
    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  4. #3
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,305
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,172
    Thanked 1,773 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 26, 27, 28, 29- Di Giáo

    + Do Vô Minh mà có Sanh Tử.

    1./. Câu hỏi thứ I


    _ Sau khi Phật nhập Niết Bàn Lục Quần Tỳ Kheo làm việc ô tha gia, cùng Xa Nặc ác tánh, các Tỳ Kheo làm thế nào để cùng họ cộng trụ và chỉ dạy họ ?

    Kinh văn: Sau khi Phật nhập Niết Bàn, Tỳ Kheo Xa Nặc tâm tánh sẽ lần lần điều phục nhu hòa bỏ ác tánh cũ.

    Nầy A Nan ! Ông Nan Đà trước kia rất nặng ái dục, tánh rất xấu ác, Đức Như Lai dùng thiện phương tiện chỉ dạy cho ông ấy được lợi ích vui mừng. Phật rõ biết căn tánh của ông ấy, dùng huệ bát nhã mà giảng thuyết mười hai nhơn duyên : Chính là vô minh duyên hành, hành duyên thức, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não, đều là rừng bụi vô minh yêu ghét, tất cả hành khổ đầy tràn trong ba cõi, chạy khắp trong lục đạo. Cội gốc sự khổ từ vô minh khởi lên. Dùng huệ bát nhã hiển bày tánh tịnh, quán sát kỹ cội gốc thời dứt được tội lỗi trong ba cõi. Vì cội gốc vô minh dứt nên vô minh dứt, vô minh dứt thời hành dứt, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não đều dứt.

    Lúc được quán niệm nầy nhiếp tâm đứng dừng thời được nhập Tam Muội, do sức Tam Muội được nhập sơ thiền lần lượt nhập tứ thiền không rời chánh niệm luôn tu tập như vậy, rồi sau tự sẽ được chứng thượng quả thoát khỏi khổ trong ba cõi Nan Đà Tỳ Kheo, tin sâu lời dạy của Phật, siêng năng tu tập trong một ít lâu được chứng quả A La Hán.

    Nầy A Nan ! Sau khi ta nhập Niết Bàn, các ông nên y theo giáo pháp chánh quán của ta mà chỉ dạy cho Lục Quần cùng Xa Nặc, hết lòng nương theo chánh pháp thanh tịnh nầy, tự sẽ được chứng thượng quả.

    Nầy A Nan ! Phải biết rằng đều do nơi vô minh mà tăng trưởng cây sanh tử trong ba cõi, nên mãi trôi chìm trong ái hà, chịu khổ mãi dưới vực tối tăm, vòng quanh cột sanh tử. Sáu thức là nhánh, vọng niệm là gốc, lượn sóng vô minh xúc khiến tâm thức dạo chơi theo lục trần, sanh mầm các sự khổ não. Vô minh nó tự tại như vua, không ai chế ngự được. Do đây nên ta nói ông chủ vô minh niệm niệm làm hại, chúng sanh chẳng hay biết, mãi luân chuyển trong sanh tử.

    Nầy A Nan ! Tất cả chúng sanh vì vô minh nầy mà khởi những tham ái, bị ngã kiến che đậy, tám muôn bốn ngàn phiền não sai sử thân họ, làm cho thân tâm họ tan vỡ không được tự tại.

    Nầy A Nan ! Nếu vô minh dứt thời ba cõi đều hết, nên gọi là người xuất thế.

    Nầy A Nan ! Nếu có thể quán sát kỹ mười hai nhơn duyên rốt ráo không có ngã, sâu vào nơi bổn tánh thanh tịnh, thời có thể xa lìa ngọn lửa lớn ba cõi.

    Nầy A Nan ! Đức Như Lai là đấng chơn ngữ nói lời thành thật, đây là lời phó chúc tối hậu, các ông phải y theo tu hành.
    + Tích Lục Quần Tỳ Kheo.

    SÁU VỊ TÌ-KHEO XẤU (lục quần Tì-kheo)
    Thời Phật tại thế, có 6 vị Tì-kheo tính tình không tốt, không giữ oai nghi, cùng nhau kết bè đảng, làm thành một nhóm 6 người, chuyên phá phách quấy nhiễu đại chúng, làm phiền lòng nhiều người, kinh luật thường gọi là “lục quần Tì-kheo”. Tuy họ hay phá phách, làm nhiều chuyện xấu, nhưng cũng do họ tạo cơ duyên mà đức Phật chế định giới luật để áp dụng trong đời sống tăng đoàn. Theo danh sách được ghi trong luật Tứ phần, 6 vị đó là:

    1. Nan-đà, cũng gọi là Nan-đồ, hay Tam-văn-đạt-đa (không phải là tôn giả Nan-đà, em khác mẹ của đức Phật), tính tình nhiều tham lam, sân hận, nhưng giỏi về toán số, âm dương, lại có tài thuyết pháp, biện luận.

    2. Bạt-nan-đà, cũng gọi là Ưu-ba-nan-đà, là anh em với Tì-kheo Nan-đà ở trên. Ông tính tình vô cùng tham lam, ham chất chứa nhiều của cải, khi chết, tổng trị giá tài sản của ông để lại có đến 40 vạn lượng vàng! Tài năng của ông ngang bằng với Tì-kheo Nan-đà. Ông luôn luôn hăng hái và sôi nổi, có khả năng giáo hóa ngoại đạo, mà cũng là khắc tinh, từng bức hại, gây nhiều khổ đau cho ngoại đạo.

    3. Ca-lưu-đà-di, vốn là một vị đại thần của triều đình vua Tịnh Phạn. Sau khi biết tin đức Thích Tôn đã thành đạo và đang ngự tại tinh xá Trúc Lâm, đức vua đã sai Ca-lưu-đà-di đi thỉnh Phật về thăm hoàng cung, nhưng khi đến nơi, được trông thấy đức Phật và nghe Phật thuyết pháp, ông liền bỏ ý định về lại hoàng cung, xin theo Phật xuất gia. Ông là người có trí tuệ cao, đặc biệt đối với các phụ nữ, ông có cách giáo hóa rất khéo léo. Tuy vậy, tính ông rất hiếu sắc, nhiều tham dục; rất nhiều điều giới Phật chế liên quan đến giới dâm, đều do những hành động bất chánh của ông. Về sau, một lần nhân bị nữ sắc làm hại, ông đến trước tôn giả Xá-lợi-phất trần tình sám hối, được tôn giả khuyên dạy chí tình, ông bèn phát tâm dũng mãnh, bỏ hết tính xấu, tinh cần tu tập, và chứng quả A-la-hán. Sau khi chứng quả, ông muốn cứu độ nhiều người khác cùng chứng quả, nhưng trong lúc đi hành hóa, ông đã bị người ta đánh cho đến chết, và thi thể bị vùi trong đống phân!

    4. Xa-nặc, cũng gọi là Xiển-đà, vốn là người hầu của vua Tịnh Phạn, sau được giao cho nhiệm vụ chuyên môn đánh xe và hầu cận thái tử Tất-đạt-đa. Chính ông đã đánh xe đưa thái tử đi dạo bốn cửa thành, và sau đó lại dùng ngựa đưa thái tử vượt hoàng cung đi xuất gia. Khi thái tử cắt tóc và tiến vào rừng, ông đã khẩn thiết xin thái tử cho đi theo cùng xuất gia để luôn luôn được hầu cận thái tử, nhưng thái tử nhất quyết không cho. Ông đành mang áo mão, bảo kiếm, châu ngọc, cùng mớ tóc của thái tử trở về hoàng cung trình lên đức vua. Sau khi thành đạo, đức Phật trở về Ca-tì-la-vệ thăm vua Tịnh Phạn cùng thân tộc. Sau khi các vương tử trong hoàng tộc đã được Phật thọ nhận cho xuất gia, ông cũng xin Phật cho xuất gia. Tuy ông thành tâm xuất gia, nhưng tâm si ám, tính tình lại ngạo mạn, hay sân hận, phạm tội không biết hối cải; hay cãi cọ, gây bất hòa trong tăng chúng, đến nỗi bị mọi người gọi là “Xa-nặc ác khẩu”. Sau khi Phật nhập diệt, tăng chúng vâng lời Phật dạy, dùng cách “mặc tẩn” (xa lánh, ruồng bỏ, không nói chuyện, không đến gần) để đối xử với ông. Do tình cảnh này, ông đã hồi tâm tự xét lại mình, bèn đến trước tôn giả A-nan xin sám hối và cầu xin dạy bảo. Được tôn giả thương xót giáo giới, ông sửa đổi tâm tánh, tinh tấn dũng mãnh, và chứng quả A-la-hán.

    5. Mã Túc, cũng gọi là Mã Sư, tức A-thấp-bà, vốn là đệ tử của tôn giả Xá-lợi-phất.

    6. Mãn Túc, tức Phất-na-bạt, cũng gọi là Phú Na Bà Sa, vốn là đệ tử của tôn giả Mục-kiền-liên. Hai vị này, Mã Túc và Mãn Túc, bẩm tính si ám, hay sân hận, nhưng đều ưa thích âm nhạc, múa nhảy, trồng hoa, và vui chơi đây đó. Về sau đều bị ngoại đạo dùng gậy đánh cho đến chết.
    Nhóm “lục quần Tì-kheo” này, từ sau khi hai tôn giả Ca-lưu-đà-di và Xa-nặc chứng đắc thánh quả thì không còn ở trong nhóm 6 Tì-kheo ấy nữa; rồi sau đó, Mã Túc và Mãn Túc đều bị ngoại đạo đánh chết; rốt cuộc chỉ còn hai anh em Nan-đà và Bạt Nan-đà nương nhau và sống cùng nhau, vả lại, cả hai cũng đã già rồi, không còn phá phách gì nữa.
    * Lục Quần Tỳ Kheo.- Là các vị tu sĩ mang hình thức PG mà không giữ oai nghi, tế hạnh, không giữ giới tu hành, chuyên phá phách.- Mà ngày nay chúng ta gọi là "Sư hổ mang" hay "Sư giả".

    * Vì không xứng đáng là TĂNG, nên gọi là QUẦN (bầy đàn).

    Vậy thế mà Đức Phật vẫn cho phép họ tiếp tục tu hành, chứ không "lột áo", "tẩn xuất" (đuổi ra khỏi hàng ngũ).

    Lòng từ Bi của Đức Phật thật là cao cả. Không nở giết đức con hư. Mà tìm mọi cách để cứu độ họ. (Vì nhừng người đó mới thật cần được cứu độ)

       

    Last edited by vienquang6; 19-03-2019 at 09:17 PM.
    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 1 của 3 1 2 3 CuốiCuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Similar Threads

  1. Kinh Chân nhân - Bài kinh số 113 - Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya)
    By Thiên Không in forum Giáo Lý PG Nguyên Thủy
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 10-06-2018, 11:29 AM
  2. Trả lời: 9
    Bài viết cuối: 13-05-2018, 11:30 AM
  3. Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 13-05-2018, 11:22 AM
  4. Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 13-05-2018, 11:10 AM
  5. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 09-06-2011, 06:43 AM

Members who have read this thread : 13

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình