|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 35 của 38 Đầu tiênĐầu tiên ... 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 CuốiCuối
Kết quả 103 đến 105 của 113

Chủ đề: Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

  1. #103
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,314
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,177
    Thanked 1,774 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

    * Phạm hạnh thanh tịnh (tt) .

    + Dẫn Nghiệp .

    Kinh văm :
    Nghiệp như vậy có chỗ định thọ báo, như mười pháp ác quyết định ở địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, mười nghiệp lành quyết định ở nhơn, thiên.

    Mười pháp ác có thượng, trung và hạ : Nghiệp thượng thọ thân địa ngục, nghiệp trung thọ thân súc sanh, nghiệp hạ thọ thân ngạ quỉ.

    Mười nghiệp lành về nhơn đạo có bốn hạng : Nghiệp hạ sanh Bắc Câu Lô Châu, nghiệp trung sanh Tây Ngưu Hóa Châu, nghiệp thượng sanh Đông Thắng Thần Châu, nghiệp thượng thượng sanh Diêm Phù Đề.

    Người trí quán sát như vậy rồi liền nghĩ rằng : Ta phải làm thế nào dứt những quả báo ấy ? Lại nghĩ rằng nhơn duyên của những nghiệp nầy do vô minh xúc sanh ra, nếu ta dứt trừ vô minh cùng xúc, thời nghiệp quả nầy dứt mất chẳng còn sanh. Vì dứt trừ vô minh và xúc nên người trí tu bát chánh đạo, đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh. Cũng gọi là trong thân độc của chúng sanh có vị thuốc hay, như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc.
    Dẫn nghiệp là gì ?

    Trong đời này, không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên hết, mọi sự việc, quá trình xảy ra đều có nhân duyên của nó.
    Định nghĩa nghiệp là gì?

    Nghiệp là hành động có dụng tâm, hành động mà không có dụng tâm thì không phải là nghiệp theo đúng nghĩa của từ này. Một người lái xe không cẩn thận, cán chết người, người đó có thể mang tội ngộ sát, phải trả tiền bồi thường và ngồi tù. Nhưng thật ra, anh ta không có tạo nghiệp sát sinh, anh ta chỉ là một cái duyên, hay là một điều kiện để người bị cán chết trả một món nợ cũ, một cái nghiệp cũ, khiến anh ta bị cán chết.

    Lạnh lùng mà nói, tình hình đích thực là như vậy, nếu chúng ta có một nhận thức sâu sắc về thuyết nghiệp. Trong đời này, không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên hết, mọi sự việc, quá trình xảy ra đều có nhân duyên của nó. Có đủ nhân, đủ duyên và đúng thời, từ sự việc xảy ra tốt hay xấu, lành hay dữ, may mắn hay bất hạnh. Mọi sự việc xảy ra đều tương ứng với nhân duyên. Nhưng đây là nghiệp chứ không phải là số mệnh.


    Có đủ nhân, đủ duyên và đúng thời, từ sự việc xảy ra tốt hay xấu, lành hay dữ, may mắn hay bất hạnh.

    Dẫn nghiệp và mãn nghiệp - Hai loại nghiệp quan trọng

    Nghiệp có nhiều loại, nhưng Phật giáo thường chú ý hai loại chính là dẫn nghiệp và mãn nghiệp.

    Dẫn nghiệp là nghiệp dắt dẫn chúng sanh đi vào một trong sáu cõi, trong số này có ba cõi thiện là cõi loài trời, cõi loài A-tu-la và cõi loài người. Và ba cõi ác là cõi loài người rất nhiều, mắt ta không thấy họ, nhưng không phải là không tồn tại. Dân gian không biết, gọi họ bằng đủ các thứ tên như thần, tiên, quỷ….

    Trong các loại chúng sanh sống ở cõi ác, có hai loại mắt người không thấy được là chúng sanh loài quỷ đói và chúng sanh loài địa ngục. Loài quỷ đói là loài chúng sanh do cấu tạo sinh lý (bụng rất to, nhưng cổ họng rất bé) cho nên luôn luôn bị đói. Chúng sanh ở địa ngục thì bị khổ triền miên, khổ ở mức loài người không tưởng tượng nổi.

    Còn súc sanh thì rất nhiều loại, không thể biết xuể được, nhưng chúng có đặc tính chung là hay cấu xé lẫn nhau, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Loại súc sanh quen thuộc nhất là gia súc như chó, mèo, gà, lợn, ngựa, trâu. Chúng nó sống khổ thế nào, chúng ta đều biết. Nhưng có điều nhiều người không biết là nếu không sống thiện, không tu tập và sống lối sống ngu si như súc vật thì sau khi chết, chúng ta có thể tái sanh, và làm súc vật. Rất có khả năng đó, chúng ta không thể xem thường.

    Cho nên, ít nhất chúng ta phải biết cơ chế vận hành của nghiệp, đặc biệt là loại nghiệp gọi là dẫn nghiệp. Mục đích là dùng cơ chế vận hành của nghiệp để cuộc sống chúng ta có ý nghĩa, để cho chúng ta chủ động tạo ra những nghiệp có cường độ mạnh để cho đời này cũng như ở các đời sống sau, chúng ta không bị đọa vào các cõi ác, khổ và luôn tái sanh vào các cõi lành, cõi thiện, dẫn chúng ta đến mục đích cao nhất là giác ngộ và giải thoát.

    Vì dẫn nghiệp quyết định hướng tái sanh, cho nên cũng có tên gọi là tái sanh nghiệp, với tiếng Anh tương đương là reproductive kamma. Kamma là tiếng P li nghĩa là nghiệp, còn tiếng Sanskrit tương đương là karma, một từ mà sách Tây Phương rất hay dùng để chỉ nghiệp.

    Tái sanh nghiệp hay dẫn nghiệp là những hành động tạo nghiệp có cường độ mạnh hoặc thiện hay bất thiện, quyết định hướng tái sanh của một chúng sanh cũng như những sự kiện chủ yếu ở đời sau của chúng sanh đó.

    Sau đây, tôi xin đưa vài ví dụ minh họa, trước hết những hành động tạo nghiệp cực ác, quyết định không tránh khỏi hướng tái sanh của một chúng sanh vào một trong ba cõi ác là địa ngục, quỷ đói, súc sanh. Đó là các hành động cố ý giết cha mẹ, bậc Thánh A-la-hán, làm chảy máu Phật và phá sự hòa hợp của Tăng chúng.

    Nếu phạm vào một trong năm nghiệp ác nói trên, thì nhất định phải tái sanh vào cõi sống ác, khổ. Năm trường hợp nói trên là những trường hợp cực đoan, còn nói chung sống buông thả, không giữ năm giới, không làm điều thiện thành thói quen, với tâm ác không biết sửa chữa đều có nguy cơ sanh vào một trong ba cõi ác là địa ngục, quỷ đói và súc sanh, và dù có may mắn được tái sanh làm người thì sẽ là người sống bất hạnh như chết yểu, tật nguyền, hay ốm đau bị người đời khinh rẻ….



    ( Trích bài viết của Giáo sư Minh Chi

    Học viện Phật giáo, TP Hồ Chí Minh)

       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  2. #104
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,314
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,177
    Thanked 1,774 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

    * Phạm hạnh thanh tịnh (tt) .
    + Quán Sanh tử khổ .


    Kinh văn : Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát nghiệp và quán sát phiền não rồi, kế lại quán sát quả báo của hai thứ nầy : Tức là khổ. Đã biết là khổ thời có thể xa lìa tất cả sự thọ sanh.
    Nầy
    Người trí lại quán sát phiền não làm nhơn duyên sanh ra phiền não, nghiệp cũng làm nhơn duyên sanh ra phiền não. Phiền não lại làm nhơn duyên sanh ra nghiệp, nghiệp làm nhơn duyên sanh ra khổ, khổ làm nhơn duyên sanh ra phiền não, phiền não làm nhơn duyên sanh ra hữu, hữu làm nhơn duyên sanh ra khổ, khổ làm nhơn duyên sanh ra hữu, hữu làm nhơn duyên sanh ra nghiệp, nghiệp làm nhơn duyên sanh ra phiền não, phiền não làm nhơn duyên sanh ra khổ, khổ làm nhơn duyên sanh ra nghiệp.

    Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ai có thể quán sát như vậy, nên biết rằng người nầy có thể quán sát nghiệp khổ, vì những điều quán sát như vậy chính là mười hai nhơn duyên sanh tử, người nầy chẳng gây tạo nghiệp mới, có thể phá hoại nghiệp cũ.

    Nầy Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát sự khổ nơi địa ngục. Quán sát nơi địa ngục nhẫn đến ba trăm ba mươi sáu sở. Mỗi địa ngục đều có các sự khổ, đều do phiền não và nghiệp sanh ra. Quán sát địa ngục rồi kế lại quán sát những sự khổ của ngạ quỉ và súc sanh. Kế lại quán sát những sự khổ của nhơn gian và của chư thiên. Những sự khổ như vậy đều do nơi phiền não và nghiệp sanh ra.

    Nầy Thiện Nam Tử ! Trên các cõi Trời dầu không những sự khổ não lớn, nhưng thân thể của chư thiên mềm dịu mịn trơn, lúc năm tướng suy hiện ra họ cũng thọ lấy sự khổ lớn, như sự khổ của địa ngục.

    Nầy Thiện Nam Tử ! Người trí quán sát những sự khổ của tam giới đều do nơi phiền não và nghiệp mà sanh. Như đồ bằng đất chưa hầm thời dể bể hư. Thân thể của chúng sanh cũng như vậy, là những đồ đầy sự khổ. Như cây to bông trái sum sê bầy chim có thể làm hư hại. Như nhiều cỏ khô chút lửa cũng có thể cháy hết. Thân thể của chúng sanh bị những sự khổ làm hư hoại cũng như vậy. Người trí nếu có thể quán sát tám thứ khổ, người nầy có thể dứt được những sự khổ.

    Nầy Thiện NamTử ! Đã quán sát tám sự khổ rồi kế lại quán sát khổ nhơn.

    Khổ nhơn đây là ái cùng vô minh. Có hai thứ : Một là cầu thân thể, hai là cầu của cải, hai thứ nầy đều là khổ, do đây nên biết ái cùng vô minh là khổ nhơn. Lại có hai thứ : Một là nội, hai là ngoại. Nội có thể gây nghiệp, ngoại có thể làm tăng trưởng. Nội lại có thể gây nghiệp, ngoại làm thành nghiệp quả.

    Đã dứt nội ái thời nghiệp cũng dứt, dứt được ngoại ái thời qủa cũng dứt. Nội ái có thể sanh khổ đời vị lai, ngoại ái có thể sanh khổ đời hiện tại. Do đây nên ái là khổ nhơn.

    Đã quán khổ nhơn rồi kế lại quán sát quả báo. Quả báo của khổ chính là thủ, ái quả gọi là thủ. Nhơn duyên của thủ nầy tức là nội ái và ngoại ái do đây có ái khổ.

    Nguời trí phải quán sát ái làm nhơn duyên cho thủ, thủ nhơn duyên nơi ái, nếu có thể dứt ái và thủ thời chẳng tạo nghiệp thọ khổ. Do đây nên người trí vì dứt trừ ái khổ mà tu bát chánh đạo. Đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh, cũng gọi là trong thân độc của chúng sanh có vị thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc.

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  3. #105
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,314
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,177
    Thanked 1,774 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

    * Phạm hạnh thanh tịnh (tt) .

    + Thế Đệ Nhất Pháp .

    Kinh văn : _ Bạch Thế Tôn ! Pháp hữu lậu cũng có thể làm nhơn cho pháp vô lậu, cớ sao đức Như Lai chẳng nói pháp hữu lậu là phạm hạnh thanh tịnh ?
    _ Nầy Thiện Nam Tử !Tất cả pháp hữu lậu là điên đảo, nên tất cả pháp hữu lậu chẳng được gọi là phạm hạnh thanh tịnh.

    _ Bạch Thế Tôn ! Pháp thế đệ nhứt là hữu lậu hay là vô lậu.

    _ Nầy Thiện Nam Tử ! Là hữu lậu.

    _ Bạch Thế Tôn ! Pháp thế đệ nhứt dầu là hữu lậu nhưng tánh nó chẳng phải điên đảo, cớ sao chẳng gọi nó là phạm hạnh thanh tịnh ?

    Nầy Thiện Nam Tử ! Pháp thế đệ nhứt là nhơn của pháp vô lậu, vì giống với vô lậu và hướng về vô lậu nên chẳng gọi là điên đảo. Phạm hạnh thanh tịnh phát tâm tương tục mãi đến rốt ráo. Còn pháp thế đệ nhứt chỉ là một niệm, nên chẳng được gọi là phạm hạnh thanh tịnh
    .
    Pháp thế đệ nhứt là gì ?

    Lượt trích Luận Câu Xá :

    Tuy quán trí đã cao, đã tự tại, nhưng muốn phát khởi trí vô lậu chân chánh, diệt trừ phiền não mê lý, thiết thực tiến vào kiến đạo, lại cần phải nhờ công sức gia hạnh làm phát khởi thiện căn thù thắng mới được. Có 4 thiện căn thù thắng là: noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất.

    1. Noãn pháp: Có nghĩa là muốn đốt cháy đống củi phiền não phải nhờ ngọn lửa trí của vô lậu Thánh đạo. Ở địa vị này tướng nóng của lửa đó mới bắt xuất hiện, nên gọi là noãn (nóng).

    2. Ðảnh vị
    .
    Hành giả tu noãn thiện căn tuần tự từ dưới lên giữa rồi lên trên, đến lúc thành mãn cùng tột thì phát sanh thiện căn thù thắng hơn, gọi là đảnh pháp thiện căn?

    Sao gọi là đảnh pháp?

    a. Trong bốn thiện căn, từ nhẫn vị trở lên gọi là nhẫn bất đọa ác thú, từ nhẫn trở lên không còn bị đọa vào đường ác. Noãn vị, đảnh vị gọi là động thiện căn (thiện căn còn động chuyển).Nếu tiến thì khởi thêm hai thiện căn bất động là nhẫn và thế đệ nhất, nếu thối vẫn lại khởi hoặc tạo nghiệp, đọa vào đường ác. Ðảnh là thiện căn ở chót đảnh trong hai thứ động thiện căn đó, ví như chót đảnh của thân người cho nên gọi là đảnh.

    b. Ðảnh vị này ở giữa chặn đường tiến thối. Tiến thì lên nhẫn vị, nhất định không còn bị thối, mà dần bước vào kiến đạo; thối thì trở lại nõan vị, rồi hoặc vì tạo nghiệp bị đọa, ví như chót núi, ở giữa hai mặt tiến thối lên xuống nên gọi là đảnh.

    3. Nhẫn vị

    Hành giả tu đảnh thiện căn tuần tự từ dưới lên giữa, giữa lên trên, khi thành mãn cùng tột lại phát sinh thiện căn thù thắng cao hơn, đó là nhẫn vị. Ở địa vị này, đặc biệt hành giả có tín tâm nhẫn ấn khả đạo lý Tứ đế, không còn thối đọa, nên gọi là nhẫn. Ở vị thế đệ nhất pháp, đối với lý Tứ đế cũng có tâm nhẫn khá cao, và liên tục đi vào kiến đạo, không còn thối đọa, song không quán đủ cả lý Tứ đế, nên không gọi là nhẫn. Nhưng nhẫn vị này có ba bậc (phẩm): hạ, trung, thượng.

    1. Hạ phẩm nhẫn: giống như hai vị nõan đảnh, quán đủ lý Tứ đế, hướng đến Tứ đế ở Dục giới, quán 16 hành tướng và hướng đến Tứ đế ở hai cõi trên quán 16 hành tướng cọng chung 3 cõi là 32 hành tướng.

    2. Trung phẩm nhẫn: Gọi là giảm duyên, giảm hành (4 đế cõi Dục cọng 4 đế cõi Sắc và Vô sắc thành 8 đế làm cảnh sở duyên, hành tướng duyên tới nó gọi là hành). Ðối với 32 hành tướng của 4 đế cõi dưới và hai cõi trên, khi quán vòng thứ nhất thì quán từ hành tướng thứ nhất (tức hành tướng khổ của Khổ đế) đến hành tướng thứ 31(tức hành tướng của Ðạo đế) giảm trừ hành tướng thứ 32 không quán đến(tức hành tướng xuất của Ðạo đế), như vậy gọi là giảm hành. Khi quán vòng thứ hai, lại quán từ hành tướng thứ nhất đến hành tướng thứ 30, giảm thêm hành tướng thứ 31 không quán đến... Cứ như vậy, lần lượt quán đến vòng thứ 31 thì giảm hết 31 hành tướng, chỉ còn lại một hành tướng Khổ đế ở Dục giới, gọi là 1 hành 2 sát- na, tức lấy tâm trong 2 sát-na quán một hành tướng khổ của Khổ đế còn lưu lại ở Dục giới, còn 31 hành tướng kia đều đã giảm trừ hết. Ðấy gọi là 7 vòng giảm duyên, 24 vòng giảm hành, tức là hễ quán 4 vòng thì giảm 3 hành tướng và 1 duyên(1 duyên tức là trọn một đế).

    Những căn cơ bước vào kiến đạo có lợi có độn, trong hạng lợi căn thì có chấp ngã, chấp ngã sở; trong hạng độn căn thì có ngã mạn tăng lên, giải đãi tăng lên. Người chấp ngã thì sẽ do quán hành tướng "phi ngã" để vào kiến đạo. Nếu chấp ngã sở thì sẽ do quán hành tướng "không" để vào kiến đạo. Người có ngã mạn tăng lên thì sẽ do quán hành tướng "vô thường" để vào kiến đạo, nếu giải đãi tăng lên thì sẽ do quán hành tướng "khổ" để vào kiến đạo.Thế nên, ở địa vị trung nhẫn này, tùy căn cơ mà lưu lại hoặc ít hoặc nhiều hành tướng đã quán.

    Nói cách khác, 4 đế cõi Dục và bốn đế của hai cõi trên đều là cảnh sở duyên, cọng lại thành tám cảnh sở duyên, mỗi cảnh sở duyên có bốn hành tướng, vậy 8 x 4 = 32 hành tướng. Khi quán, giảm hết một duyên, tức giảm hết bốn hành tướng, thu hẹp dần cho đến khi chỉ còn quán một hành tướng "khổ" của Khổ đế cuối cùng ở cõi Dục (tức còn một duyên Khổ đế). Như vậy đã trải qua bảy vòng giảm duyên (giảm bảy đế) và 24 vòng giảm hành (giảm 31 hành). Ðến đây là vị trung phẩm nhẫn trọn vẹn.

    4. Thế đệ nhất vị

    Thiện căn được phát sinh ở địa vị này là tột đỉnh với pháp thế gian hữu lậu. Câu-xá luận 23 nói: "Vì là hữu lậu nên gọi thế gian; vì là tột đỉnh nên gọi đệ nhất". Nghĩa là pháp hữu lậu này tột đỉnh trong thế gian nên gọi là Thế đệ nhất. Có sức sĩ dụng (công lực) làm nhân thoát ly khỏi đồng loại, dẫn sanh ra Thánh đạo, nên gọi là tột đỉnh (tối thắng). Cách tu của Thế đệ nhất cũng giống như thượng phẩm nhẫn, duy chỉ đối Khổ đế, mỗi hành tướng tu với mỗi sát-na tâm liền bước thẳng vào kiến đạo, tức "nhập chánh tánh ly sanh" (nhập kiến đạo, Niết-bàn, lìa sinh tử).

    Trên đây gồm cả ngũ đình tâm quán, biệt tướng niệm trú, tổng tướng niệm trú gọi là thuận giải thoát phần. Vì đây chỉ có văn tuệ, tư tuệ, chưa có tu tuệ. Gồm cả bốn thiện căn noãn, đảnh, nhẫn, Thế đệ nhất,thì gọi là thuận quyết trạch phần. Giải thoát tức Niết-bàn, phần tức nhân. Thiện pháp ngũ đình tâm thường thuận với Niết-bàn, giải thoát, làm nhân cho giải thoát, nên gọi là thuận giải thoát phần. Quyết là quyết đoạn, trạch là giản trạch, phần là một phần. Trên đường tu tập có ba phần là kiến đạo, tu đạo, vô học đạo. Quyết trạch có nghĩa là kiến đạo, mà kiến đạo là một trong ba phần. Bốn thiện căn noãn, đảnh, nhẫn, Thế đệ nhất là trợ duyên thuận lợi cho phần kiến đạo (quyết trạch) đó, nên gọi là thuận quyết trạch phần.

    Tóm lại, ba vị thuận giải thoát phần, bốn vị thuận quyết trạch phần đều là phương tiện tư lương để đạt đến thánh quả, nên gọi chung là bảy phương tiện, hoặc là bảy hiền vị, bảy gia hạnh.
    https://www.budsas.org/uni/u-cauxa/cauxa06a.htm

       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 35 của 38 Đầu tiênĐầu tiên ... 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 CuốiCuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Similar Threads

  1. Kinh Chân nhân - Bài kinh số 113 - Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya)
    By Thiên Không in forum Giáo Lý PG Nguyên Thủy
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 10-06-2018, 11:29 AM
  2. Trả lời: 9
    Bài viết cuối: 13-05-2018, 11:30 AM
  3. Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 13-05-2018, 11:22 AM
  4. Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 13-05-2018, 11:10 AM
  5. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 17-08-2012, 10:12 AM

Members who have read this thread : 60

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình