|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 29 của 38 Đầu tiênĐầu tiên ... 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 CuốiCuối
Kết quả 85 đến 87 của 113

Chủ đề: Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

  1. #85
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,312
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,176
    Thanked 1,774 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

    * A la Hán.(tt)

    + Dứt nhân duyên sanh tử.

    Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Bực A La Hán dứt hẳn nhơn duyên sanh tử ba đời, nên tự nói tôi đã hết sanh tử.
    Nhân duyên sanh tử chính là VÔ MINH. (Pháp 12 Nhân Duyên đã chỉ Vô minh dẫn đến Sanh tử). Những gì là Vô Minh ? Đó là:

    + 10 Triền (trói buộc):

    - Sân Khuể, tức lòng sân hận rất nặng.

    - Phú: Ẩn giấu tội lỗi của chính mình.

    - Thùy và Miên, ngủ nghê quá nhiều, thường ngủ gà, ngủ gật.

    - Hý: Đùa bỡn.

    - Trạo Cử (Điệu Cử): Trong tâm bất ổn, chẳng định được. Đây quả thật là chuyện rất khổ sở, chướng ngại tu hành.

    - Xan Lận (keo kiệt): Tuy kẻ ấy chẳng có tâm tham, nhưng đối với những gì mà chính mình có sẽ chẳng nỡ đem cho người khác.

    - Tật Đố (ghen ghét).

    - Vô Tàm (chẳng thẹn thùng).

    - Vô Quý (chẳng xấu hổ).

    Hợp những điều này lại thành Thập Triền.

    + 10 Sử (sai sử, làm cho không được tự ý):

    Thập Sử là Kiến Tư phiền não, gồm năm Lợi Sử và năm Độn Sử. Năm Lợi Sử là Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến, và Tà Kiến, năm thứ kiến giải sai lầm ấy. Năm Độn Sử là tham, sân, si, mạn, nghi. Nghi là hoài nghi Thánh giáo.

    Người tu hành khi đoạn dứt được 20 món trên.- Gọi là hết Vô minh. Hết Vô minh thì hết Sanh lão tử ưu bi khổ não.- Nên kinh nói: Bực A La Hán dứt hẳn nhơn duyên sanh tử ba đời, nên tự nói tôi đã hết sanh tử.- Dứt Sanh tử ở đây chính là dứt:

    1. Phần đoạn sanh tử.
    2. Lưu nhập sanh tử
    3. Hữu lậu sanh tử.

    3 loại Sanh tử này lấy Vô Minh làm năng lượng.

    Nhưng Vô minh Thật Tánh là Phật Tánh. Nên KHÔNG CÓ VÔ MINH CŨNG KHÔNG CÓ LÚC HẾT VÔ MINH (Kinh Bát Nhã). Mà Vô minh khi đã "Tịnh hóa" thì trở thành "Trí Tuệ".

    Bậc A la Hán và Phật:

    + Thân tùy trí tuệ hành

    + Khẩu tùy trí tuệ hành

    + Ý tùy trí tuệ hành.

    (Đây là 18 Bất Cộng Pháp)

    Do vậy Sanh tử của các Bậc này có 4 loại:

    1. Phản xuất sanh tử
    2. Phương tiện sanh tử
    3. Nhân duyên sanh tử
    4. Vô lậu sanh tử.

    4 Loại Sanh tử này tùy thuận Chân như nên Sanh mà Vô Sanh, lão tử mà không có ưu bi khổ não.

    Kinh Bát Nhã nói: VÔ LÃO TỬ DIỆC VÔ LÃO TỬ TẬN. (thật không có lão tử, cũng không có lúc chấn dứt lão tử.)



       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  2. #86
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,312
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,176
    Thanked 1,774 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

    * A la Hán.(tt)

    + Tận Trí và Vô Sanh Trí.

    Kinh văn: Vì được tận trí và vô sanh trí nên nói rằng tôi đã hết sanh tử, dứt hết kiết sử hữu lậu. Do nghĩa nầy nên gọi bực A La Hán đặng đến bờ kia.

    Như A La Hán, bực Bích Chi Phật cũng lại như vậy.
    + Công dụng của Trí.

    Luận Câu Xá. PHẨM PHÂN BIỆT TRÍ, nói về TRÍ như sau:

    Phẩm Hiền Thánh đã nói rõ quả vị vô lậu, giác ngộ. Còn nhân duyên vô lậu dẫn đến kết quả đó chính là trí tuệ và thiền định. Trí tuệ là thân nhân, thiền định là sơ duyên, ...

    Tuy nhiên trí và tuệ cũng cùng một thể, nên có khi nói trí, có khi nói tuệ mà nghĩa cũng như nhau.

    Chẳng những thế, trí hoặc tụê còn được gọi bằng nhiều tên tùy theo tác dụng đặc thù của nó như quán, nhẫn, kiến, quang, minh, giác, phương tiện v.v... cho đến chánh kiến, chánh tư duy, trạch pháp v.v... trong 37 đạo phẩm. Tu hành cố nhiên cần có trí tuệ mới khỏi bị lạc đường mà giác ngộ cũng cần có trí tuệ mới rốt ráo viên mãn. Kinh A-hàm nói: "Minh (trí) vi nhất thiết thiện pháp chi căn bản".

       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  3. #87
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,312
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,176
    Thanked 1,774 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

    + Tận Trí và Vô Sanh Trí. * A la Hán.(tt)

    + Trí tuệ gồm có hai loại: Trí hữu lậu và vô lậu.

    - Trí hữu lậu là trí còn mang tính chất phiền não hữu lậu xấu xa, không có khả năng dứt các phiền não (hoặc) mê lý mà chỉ là thứ trí tuệ phổ thông biết đến những cảnh vật thế tục như bình, áo, núi, sông và nó còn bị đối trị, nên cũng gọi là trí thế tục.

    - Trái lại trí vô lậu là trí tuệ thanh tịnh, không nhơ bẩn ngoài mọi thứ phiền não xấu xa. Nó gồm hai thứ là pháp trí và loại trí. Pháp trí là trí biết rõ trực tiếp chân lý của các pháp Tứ đế và có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế ngay ở cõi Dục khởi lên......

    - Nó gồm hai thứ là pháp trí và loại trí. Pháp trí là trí biết rõ trực tiếp chân lý của các pháp Tứ đế và có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế ngay ở cõi Dục khởi lên.

    - Loại trí là trí cùng loại tương tợ với Pháp trí, có khả năng biết lý Tứ đế của hai cõi trên ngang qua lý Tứ đế của cõi Dục, hoặc nói cách khác là biết lý Tứ đế của hai cõi trên theo cách loại suy với trí biết lý Tứ đế của cõi Dục, do đó có khả năng dứt mọi phiền não do mê lý Tứ đế của hai cõi trên khởi lên.

    - Từ Pháp trí và Loại trí lại cùng hai trí trong hai cách quán lý Tứ đế, và quán mỗi đế thì thành mỗi trí nên phát sinh ra 4 trí nữa là Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, và Đạo trí chúng có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế khởi lên.

    - Từ sáu trí là Pháp, Loại, Khổ, Tập, Diệt, Đạo thuộc Hữu học vị trên đây tiến lên tại Vô học vị phát khởi hai trí là Tận trí và Vô sanh trí.

    + Bậc Thánh giả vô học tự biết rằng: ta đã biết Khổ, ta đã dứt Tập, ta đã chứng Diệt, ta đã tu Đạo(ngã dĩ tri Khổ, ngã dĩ đoạn Tập, ngã dĩ chứng Diệt, ngã dĩ tu Đạo), đó gọi là Tận trí, tức là trí biết rõ hành tướng cùng tận về Tứ đế. Nói cách khác, ngay trong khi dứt hết tư hoặc phẩm thứ chín của cõi Hữu đảnh (chót cõi trời Vô sắc) thì tất cả mọi phiền não của ba cõi đều tiêu sạch, bước lên địa vị Vô học, và phát khởi sáu trí Pháp, Loại, Khổ, Tập, Diệt, Đạo, đấy gọi là Tận trí.

    + Vô sanh trí là đối với tác dụng biết, dứt, chứng, tu, thành được phi trạch diệt. Gọi là vô sanh. Trí quán thấy được lý vô sanh đó, gọi là vô sanh trí. Nói cách khác, bậc Thánh vô học sau khi đã biết: ta đã biết Khổ, dứt Tập, chứng Diệt, tu Đạo; bây giờ còn biết thêm: ta đã biết Khổ, không còn phải biết nữa; ta đã dứt Tập, không còn phải dứt nữa; ta đã chứng Diệt, không còn phải chứng nữa; ta đã tu Đạo, không còn phải tu nữa. Cái trí tuệ có được nhờ biết rõ hành tướng vô sanh (không còn biết, dứt, chứng, tu nữa) đó, gọi là vô sanh trí. Tuy nhiên bậc Vô học A-la-hán có hạng độn căn, có hạng lợi căn. Hạng độn căn còn bị thối thất, không thể phát khởi vô sinh trí, hạng lợi căn bất động tính, không còn bị thối thất mới có thể phát khởi vô sinh trí.


    (Trích Câu Xá Luận- Phẩm Phân biệt Trí)

    Ghi chú:

    - Từ 3 quả vị Tư Đà hoàn, Tu Đà Hàm, A na Hàm gọi là Bậc HIỀN Hữu Học Vị (còn phải học)

    - Quả thứ 4 A la Hán gọi là Bậc THÁNH Vô học Vị̣ (không còn phải học)


       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 29 của 38 Đầu tiênĐầu tiên ... 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 CuốiCuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Similar Threads

  1. Kinh Chân nhân - Bài kinh số 113 - Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya)
    By Thiên Không in forum Giáo Lý PG Nguyên Thủy
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 10-06-2018, 11:29 AM
  2. Trả lời: 9
    Bài viết cuối: 13-05-2018, 11:30 AM
  3. Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 13-05-2018, 11:22 AM
  4. Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 13-05-2018, 11:10 AM
  5. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 17-08-2012, 10:12 AM

Members who have read this thread : 60

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình