Sư Tổ Lưỡng Quốc Hòa Thượng Thanh Cao
( với lịch sử hình thành chùa Đồng Nhân)
(Bài tham luận tham dự hội thảo khoa học giá trị di sản mộc bản “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”giải pháp bảo tồn và phát huy)
Trích trong bài tham luận:
“Giúp triều đình gom mộ sĩ, tìm Linh Địa, khai núi sáng lập chùa Đồng Nhân , không thể quên được lòng từ bi của Sư Tổ Lưỡng Quốc Hòa Thượng .Sư Tổ quê ở làng Mạc Xá, huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương, dòng dõi trâm anh , thông minh xuất chúng , trí tuệ siêu phàm, tướng mạo khôi ngô tuấn tú , cử chỉ nho nhã khoan thai, thời trẻ trí lớn tài cao lại có một tâm hồn lãng mạn , yêu thiên nhiên thơ phú văn chương, một hôm du sơn ngoạn thủy, nhân duyên đưa đẩy, ngẫu nhiên bước đến cửa Thiền , sinh lòng mến mộ đạo Phật , 20 tuổi chính tín xuất gia , rũ sạch bụi trần , qua cổng giác ngộ , vào nhà giải thoát ! Sư Tổ gốc dòng Thiền Tào Động , từng phát túc siêu phương tham huyền vấn đạo nhiều bậc minh sư các chùa chốn Tổ trong sơn môn bản phái và các dòng Thiền khác , như chùa Phù Lãng ( dòng Lâm Tế ), lại đa văn thông tuệ , tinh tường đạo lý , được cụ Tổ hòa thượng chùa Vĩnh Nghiêm (dòng Trúc Lâm) ấn chứng gia phong , Minh Tâm kiến Tính , tục diệm truyền đăng , rồi trở về chùa Linh Sơn Đại Tráng , sinh Pháp thân dưỡng Tuệ mệnh , Pháp tài nhị thí phúc tuệ song tu , hoằng dưong Chính Pháp , rộng độ quần sinh . Sư Tổ LQHT là một bậc Thiền Sư nổi tiếng trong triều đại nhà Nguyễn , đã giác liễu sắc không , tâm vượt khỏi Tam Giới , lồng lộng tướng của một Thầy Tăng , giới đức uy nghiêm , trí tuệ uyên thâm , suốt thông các Pháp , khí cao sáng ngời như sao Hán , trong mang đức lớn cuả sư tử , ngoài hiện cái uy dũng mãnh như Tượng Vương , lời nói nói ra quý như vàng , chữ viết viết ra đẹp tựa ngọc, thăng tòa thuyết Pháp một đời để xiển dương giáo lý của đạo Phật , mở khai tục chướng , giác ngộ quần mê , kế Tổ truyền đăng , trao truyền giới Pháp , tiếp dẫn hậu lai ,duy trì mạng mạch của nhà Phật . Ngoài ra Sư Tổ còn là một nhà Nho lớn , một bậc thầy thuốc lương y giỏi , chúng ta có thể cảm nhận qua đôi câu đối sau :
“Thăng đường thuyết Pháp đa niên , vi Thiền Sư , vi danh Nho , vi lương y , đại đạo uẩn tàng nguyên tự phú
Tái hội tiến thư song thưởng , hữu tinh bội , hữu long tiền , hữu đao điệp , thử thời tam tế cảnh kỳ quan”
( Thành Thái tứ niên xuân Lạng Giang tỉnh , Dĩnh Kế tự , Pháp tử Thanh Vực bái hạ) . Nguyễn Quang Khải tạm dịch :
“Lên tòa thuyết Pháp nhiều năm , là Thiền Sư , là danh Nho , là lương y , đạo lớn chứa đầy , trong lòng sẵn có
Dâng thư hai lần được thưởng , có bội tinh , có ngọc điệp , có bài ngà , thời nay nhìn khắp , thật hiếm lắm thay !”
Sư Tổ từng cho khắc lại các bộ Kinh Tạng của nhà Phật , khắc in y thư của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông , tư vấn và góp sức cùng triều đình gom mộ sĩ , trước lập miếu nghĩa , sau xây dựng chùa , tự học sách thuốc trở thành danh y , giúp người cứu đời , hà sa công đức !
Đến năm 1886 ( vua Đồng Khánh Thứ 2 ), nước Pháp tổ chức hội chợ đấu xảo tại Hà Nội , sau đó quốc trưởng nước Pháp cũng gửi thư mời nước Đại Nam tham dự đấu xảo được tổ chức đầu năm 1889 tại Pháp ).Tuy nhiên cuối năm 1888 vua Đồng Khánh mất , vua Thành Thái kế vị khi mới 10 tuổi , dù tình hình trong nước lúc này rất rối ren , nhưng triều đình vẫn cử Sư Tổ cùng phái đoàn đại diện cho nước Việt đưa hàng hóa sang tham dự hội chợ đấu xảo tại Pháp , tuy tuổi đã cao , nhưng Sư Tổ vì non sông đất nước , một lần nữa lại giong thuyền vượt biển , muôn dặm trùng khơi sang Tây Quốc !
Riêng về khắc mộc bản , in sách thuốc “Y tông tâm lĩnh” của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông , cũng là một trong những nhân duyên của nhà Phật trong lộ trình độ tận chúng sinh , nhà Phật thương là thương chúng sinh đau khổ , bệnh khổ của người cũng khiến nhà Phật khởi lòng thương xót , muốn nhổ sạch gốc rễ mọi sự khổ cho người . Thực ra với định lực và trí tuệ của một bậc Thiền Sư như Sư Tổ LQHT, đều có thể đẩy hết sạch bệnh để thân tâm luôn an lạc , vô bệnh và tự tại . Nhưng vì lòng thương xót chúng sinh trăm ngàn bệnh khổ , nên Sư Tổ đã thị hiện bệnh khổ nơi đời , chính vì thị hiện bệnh khổ, nên mới có nhân duyên gặp được sách thuốc của cụ HT Lãn Ông , Sư Tổ nhận thấy cụ HT Lãn Ông là một bậc danh y tài năng xuất chúng , lại còn thông dịch lý văn chương, hết lòng thương người bệnh , bộ sách “Y tông tâm lĩnh” của cụ có giá trị quý báu lớn lao , đáng được để truyền bá , nếu không đem khắc bản sẽ tản mát mai một . Sư Tổ cũng muốn đem công bố trong cả nước , sau được các thân hào, các sư trong sơn môn quyên tiền giúp đỡ để trả công khắc mộc bản . Sư Tổ đã hội họp rộng rãi các bậc Nho Y cùng bàn bạc tham khảo , đính lại sách thuốc cẩn thận rồi mới đưa vào khắc chữ .
Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông cùng Sư Tổ Lưỡng Quốc Hòa Thượng đều là những bậc tiền bối có tâm đức , trí tuệ và lòng từ bi của những bậc đại Bồ Tát , đã lần lượt hạ phàm , thị hiện cõi đời , vì độ chúng sinh ra vào trong biển khổ để thực hành và cùng hoàn thiện đại nguyện trong lộ trình giác ngộ và cứu độ chúng sinh của nhà Phật !
Ngày nay chúng con xin được thành kính tri ân sâu sắc và tùy hỉ công đức vô lượng của các bậc tiền bối , đã có những cống hiến quý báu cả một cuộc đời và sự nghiệp cho đạo Pháp cùng dân tộc , đặc biệt trong nền y học dân tộc nước nhà . Các cụ đều là những cây Bồ Đề đại thụ ngàn năm xanh tươi , tỏa bóng mát vĩnh viễn cõi nhân gian , đem lại nguồn an vui cho chúng sinh nơi trần thế !
Nam mô Công Đức Lâm Bồ Tát ma ha tát tác đại chứng minh!
(Hậu lai trụ trì chùa Đồng Nhân , tỷ khiêu ni Thích Đàm Phúc An kính cẩn!)
Ngày 8 tháng 2 năm 2018 –ngày 23 tháng 12 năm Đinh Dậu
Tham dự hội thảo ngày 10 tháng 5 năm 2018- ngày 25 tháng 3 năm Mậu Tuất , tại Bắc Ninh)
_________________&&&&&&&&&&&&_____________________
Phần chú thích :
Trong bài tham luận hoặc bản thảo con viết về chuà Đồng Nhân , đều mang tính chất bản thảo để mong được sự góp ý của nhiều người. Con cũng đã tham khảo bài viết của 2 nhà nghiên cứu văn bia là Nguyễn Quang Khải và Nguyễn Ngọc Thạch đã viết bài về chùa Đồng Nhân .
Việc tướng Nguyễn Cao soạn văn bia dựng chùa Đồng Nhân là có được ghi chép trên bia , còn việc tướng Nguyễn Cao có được thờ tại chùa Đồng Nhân hay không thì không có ghi chép trong các văn bia ở chùa , chỉ là lưu truyền trong nhân gian .
Lại thấy trong văn bia và bảng khắc gỗ , chữ “Minh chỉ” của vua Tự Đức là chiếu chỉ giao cho các quan tìm kiếm , quy tập di cốt các binh sĩ tử trận về quy táng tại rìa núi Vũ Sơn. Sau đó các quan giao cho Sư Tổ LQHT trụ trì chùa Linh Sơn Đại Tráng, lập một gian miếu nhỏ để làm nơi hương khói cho các linh hồn nghĩa sĩ tại nghĩa trang .
Nhiều vấn đề trùng hợp ngẫu nhiên, vì chữ “minh chỉ” có cùng trong văn bia dựng chùa , nên dễ hiểu lầm là “ cùng lúc này vua Tự Đức sắc ban xây chùa”, lại một bên bia phương danh công đức toàn là hàng quan ,thành ra không tránh được sự hiểu lầm !
Việc xây dựng chùa Đồng Nhân là một Thiên Cơ của nhà Phật , là tâm huyết, lòng từ bi và trí tuệ của Sư Tổ Lưỡng Quốc Hòa Thượng! Xưa các Tổ đã xây chùa là phải đặt ngôi Tam Bảo chuẩn lên huyệt Địa Linh của tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng . Đúng là do Sư Tổ LQHT trụ trì đứng ra tập phúc , khuyến hóa thập phương đóng góp , có 26 quý thầy tu tại chùa Linh Sơn , từng đóng khố phát cây , khai rừng , hạ mộc , làm gạch , hun ngói , lao động hưng công góp sức tạo dựng Thiền cảnh , các hàng quan trong tỉnh và ngoài tỉnh phát tâm công đức , xây dựng từ năm 1875 đến năm 1877 thì hoàn thành ngôi Tam Bảo chùa ,trong chùa thì chúng Tăng tụng Kinh niệm Phật siêu độ âm hồn , còn ngoài nghĩa trang vẫn giữ nguyên miếu nhỏ để thờ hương linh nghĩa sĩ .
Còn 5 gian nhà khách vẫn là 5 gian nhà khách , được xây dựng năm 1910(năm vua Duy Tân thứ 4) , do tiểu của Sư Tổ LQHT là trưởng Tăng Thanh Nhượng , kế tiếp trụ trì chùa Đồng Nhân , đã vận động các quan trong và ngoài tỉnh , Tăng Ni các chùa cúng giàng, lại bỏ thêm tiền riêng để trủng tu ngôi Tam Bảo sau 34 năm lập chùa , sau đó làm thêm 5 gian nhà khách được nối từ Tam Bảo với nhà thờ Tổ . Giữa gian nhà khách có treo bức hoành phi “Tụ Tinh Thần”(Khải Định , Ất Sửu thu, Hà Thành, Đức Thiện hiệu cung tiến). Trong nhà Thiền, Chữ “Tụ Tinh Thần” đồng nghĩa với “Gom Tâm Tụ Nhất Điểm”, là cảnh giới tâm thanh tịnh yên tĩnh đạt được của các bậc chân tu .Còn bức hoành phi “Kim cổ hà thù” do cụ bá hộ Nguyễn Văn Chuyên xã Đại Tráng cúng vào năm Kỷ Mão 1879, được cất trong kho , nên con đã mang lên treo thêm trên nhà khách để tránh mối mọt. (Trong văn bia dựng 5 gian nhà này không thấy ghi gì về việc thờ tướng Nguyễn Cao và các quan ,cho nên cũng không thể khẳng định 5 gian nhà khách này được thờ tướng Nguyễn Cao). Các cụ cao tuổi trong làng , có cụ trưởng Nguyễn Văn Tám , cụ Nguyễn Văn Sùng chứng nhận , con đã hỏi rồi , các cụ đều nói : “hồi nhỏ lên chùa Đồng Nhân thì 5 gian nhà khách vẫn như vậy , không thờ gì cả , vẫn là nhà khách . Còn trong chùa 2 ban thờ nhỏ cạnh ban Đức Chúa Ông và Đức Thánh Hiền cũng vẫn được thờ ở đó từ trước”.
Còn 3 gian nhà nhỏ phía sau nhà khách , khi con đến chùa tu năm 1995-1996 nơi đây là vườn nhãn , đến năm 2009 mưa gió nhổ bật gốc rễ đổ cây , con nhờ người dọn phẳng , nhờ ơn Phật độ Tổ thương, chính quyền địa phương , dân thôn bản xóm , thập phương xa gần giúp đỡ , đến cuối năm 2009 thì con đại trùng tu toàn bộ quang cảnh chùa , thuê thợ đốn xoan và bạch đàn ở vườn chùa để xây dựng 3 gian nhà nhỏ thờ Bồ Tát Địa Tạng độ âm hồn . (Cho nên cũng không thể khẳng định là 3 gian nhà này trước kia thờ nghĩa quân nghĩa sĩ , tất cả các văn bia trong chùa cũng không thấy ghi ,mà chỉ ghi thờ nghĩa quân, nghĩa sĩ ở miếu nghĩa trang ).
Chùa Đồng Nhân , từ khi Sư Tổ LQHT khai sáng đến giờ , luôn có các đời sư nối tiếp khói hương , tu tập và trụ trì . Những câu chuyện về các đời Tổ chúng con vẫn được nghe kể lại . Như chuyện Sư Tổ LQHT, năm 1849 được vua tuyển chọn sang nước Pháp xây chùa và truyền bá đạo Phật , cả đi cả về là tròn 5 năm. Khi Sư Tổ đi Pháp về rồi , mãi sau này mới xây chùa Đồng Nhân ,mà chùa Đồng Nhân được xây dựng đúng như mẫu thiết kế ngôi chùa Sư Tổ đã xây bên nước Pháp . Sau này có ông quan huyện Quế Võ thu hồi được 5 gian nhà gỗ lim do những đại gia tự lập chùa tư trên đất công, đem hiến cúng Sư Tổ để làm nhà thờ Tổ năm 1891(năm vua Thành Thái thứ 3), khánh thành đầu xuân 1892(Thành Thái tứ niên xuân), trong ngày khánh thành Tổ đường , Pháp tử các chùa cùng các quan các nơi đã về dự , đem hoành phi câu đối cúng mừng , có bức hoành phi đề 4 chữ lớn “Lưỡng Quốc Hòa Thượng”(Thành Thái tứ niên xuân , Linh Phúc tự cúng) .Một đôi câu đối :
“Giao tình miêu ký đắc tam thập bát niên tiền , nhi kim Tăng tân điệp quật Tây hàng vô phi túc định
Trì khí cái đa , tinh kỷ thiên vạn lý , trọng ngoại đáo hà hải du Tây mãnh , du Bắc Kỳ đạo cao Thiền"
(Thành Thái tứ niên xuân, Quang Bảo tự , Thiếu Khanh thương tá tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Văn Nhã trang phụng ).
Nguyễn Quang Khải tạm dịch:
“Ba tám năm trước , Sư đi hải ngoại, ghi chép mọi việc bên Tây , không gì là không đầy đủ
Phong phú vô cùng , đi nghìn vạn dặm , phục người Tây mạnh, trở về đất Bắc , mình vẫn là Sư”.
Qua đôi câu đối người xưa để lại , chúng con có thể hiểu 38 năm về trước Sư Tổ đã sang nước Pháp xây chùa và truyền đạo Phật trong 5 năm( 1892-38=1854-5=1849) , năm 1854 là năm cuối ở bên Pháp , công việc Phật sự đã xong , Sư Tổ từ nước Pháp trở về cố quốc ! Lại thấy trên văn bia , hoành phi , câu đối , thập phương đóng góp xây dựng chùa , hơn trăm người chủ yếu là hàng quan. Trong đó quan bá hộ 14 người , quan thiên hộ 2 người, phó lý 40 người, cai tổng ,chánh lý, chánh quản, lý trưởng , thôn trưởng , thương tá gộp lại là 15 người , quan võ gồm vũ cử , phó lãnh binh 3 người , tri huyện 1 người , chức hương 19 người , đội trưởng 13 người , nhiếp điện , thân hào , tú tài gồm 6 người , các quản quan , viên chức , hội đồng , hưng công , các đường hiệu , tổng 20 người , còn lại trên dưới 10 người là tín lão , nam tử , nữ tử đều là cha mẹ , vợ con, quyến thuộc trong phương danh công đức .Hoành phi câu đối có quan bá hộ , bố chánh , hàn lâm kiểm thảo , hàn lâm thị chiếu , tổng đốc , Pháp tử các chùa …cúng tặng !Qua đây chúng con tự hỏi : tại sao chỉ là xây dựng một ngôi chùa nhỏ mà lại có nhiều hàng quan trong tỉnh và ngoài tỉnh phát tâm công đức xây dựng chùa đến như vậy ? Phải chăng là họ ngưỡng mộ và kính trọng Sư Tổ !Vì đâu mà họ lại ngưỡng mộ và kính trọng Sư Tổ ? Phải chăng từ trước năm xây dựng chùa Đồng Nhân (1875-1877), Sư Tổ đã từng là người nổi tiếng ! Thế từ đâu mà Sư Tổ đã từng là người nổi tiếng ?! Lại thấy trong bia ký “Thanh Mạc Tháp” , có đoạn ghi : “…đến quãng tuổi gìà thì vâng mệnh sang Pháp , giong thuyền muôn dặm”, nếu không phải Sư Tổ từng là người nổi tiếng , thì sao triều đình lại cử Sư Tổ cùng phái đoàn người Việt sang tham dự hội chợ đấu xảo tại Pháp năm 1889 ? Cùng lúc này bộ “ y tông tâm lĩnh” đã được in và đóng thành sách , nên Sư Tổ đã mang theo để trưng bầy quảng bá . Nếu không phải “vâng mệnh” thì sao Sư Tổ phải nhọc tấm thân lúc tuổi già , để giong thuyền vượt biển , tái hội Tây du ?! Mới cả trong khi khắc mộc bản bộ “y tông tâm lĩnh” , chùa khó khăn , không có tiền , may nhờ nhiều người giúp đỡ việc mới xong . Nếu không phải triều đình cắt cử và lo kinh phí , thì thầy trò Sư Tổ lấy đâu tiền mà sang Pháp chỉ để quảng bá bộ “y tông tâm lĩnh”! Sư Tổ có thể gửi các quan mang đi triển lãm ở nước Pháp kia mà !Cho nên trước khi sang Pháp dự đấu xảo năm 1889 , thì chắc chắn rằng : Sư Tổ đã từng là người nổi tiếng , nên được triều đình và các quan bội phần kính trọng và ngưỡng mộ , chứ không phải sau khi Sư Tổ đi dự đấu xảo năm 1889 ở Pháp về mới nổi tiếng !) Nếu nhất thiết phải căn cứ vào văn bia mà xác định? Còn hoành phi câu đối là do các chùa, các quan kính mừng Sư Tổ nhân ngày khánh thành Tổ đường ,đã nhắc lại năm 1849 Sư Tổ từng sang Pháp xây chùa truyền đạo Phật 5 năm , có hay không thì Phật biết Tổ biết , còn niềm tin là ở mỗi người ! Còn như Đức Phật xưa kia từng là Thái Tử còn rũ sạch ngai vàng điện ngọc để vào rừng ẩn tu! Những gì cần làm cho đạo Phật , Sư Tổ cũng đã làm rồi , những gì cần làm cho chùa cảnh và chúng sinh, Sư Tổ cũng đã làm rồi, sau khi viên tịch , chúng con kính mong Sư Tổ nghỉ ngơi yên tĩnh !
Và đầu xuân 1894 (Năm giáp ngọ ), Sư Tổ thần cơ diệu toán, cho biết trước ngày giờ mãn hạn Sa Bà xả bỏ báo thân , đã chọn ngày Lục Giáp 23 tháng 10 năm 1894, chính giờ ngọ , viên tịch tự tại ! Đến năm 1896( năm bính thân) , các Pháp tử , Pháp tôn đã cất “Thanh Mạc Tháp”, ở chùa Linh Sơn thờ Xá Lợi của Sư Tổ , ở chùa Đồng Nhân thờ áo Cà Sa của Đức Ngài!
Riêng về bản khắc gỗ bộ “y tông tâm lĩnh”, diễn ra từ năm 1879 đến năm 1885, công việc khảo đính và biên tập trong 6 năm. Tại thời điểm này, chùa Đồng Nhân duy nhất có ngôi Tam Bảo chùa được xây dựng năm 1875-1877, lúc này chưa có nhà Tổ , chưa có nhà khách , chưa có Tăng phòng .
Năm 1891 nhà thờ Tổ được xây dựng , lúc này chùa Đồng Nhân mới có thêm nhà Tổ . Nhưng trước lúc chưa xây nhà Tổ , là năm 1889 , Sư Tổ sang Pháp tham dự hội chợ đấu xảo và có mang theo bộ sách “Y tông tâm lĩnh” để trưng bầy quảng bá , chứng tỏ trong thời gian này công việc khắc mộc bản và in đóng thành sách đã xong.
Đến năm 1910, chùa Đồng Nhân có xây dựng thêm 5 gian nhà khách nối liền từ Tam Bảo với nhà Tổ , lúc này Sư Tổ đã viên tịch được 16 năm! Chứng tỏ tại thời điểm khắc mộc bản và in sách “y tông tâm lĩnh”, chùa Đồng Nhân duy nhất có ngôi Tam Bảo chùa ! Trong khi đó chùa Linh Sơn Đại Tráng có trước , là chùa chốn Tổ , được xây dựng vào cuối triều nhà Lý , do Đức Tổ là Quốc Sư Chân Như , người làng Đông Ngàn, khai sơn sáng lập . Nơi đây là chốn tùng lâm , có hàng mấy chục sư tu thiền cùng tu trong một chùa ,lại là trường hạ để các sư ở các chùa về an cư trong 3 tháng hạ hàng năm. Nên toàn bộ cảnh chùa được xây dựng thiết kế quy hoạch quy mô , gồm ngôi Tam Bảo chùa , nhà thờ Tổ, nhà Mẫu , Tăng đường , nhà khách , trai phòng , nhà bếp.. .v…v… đầy đủ trăm gian rộng đẹp , giếng chùa nhiều nước , lại xây thêm rất nhiều bể chứa nước mưa .Cùng thời gian đó (1879-1885), chùa Đồng Nhân duy nhất có ngôi Tam Bảo.Vì cùng tọa lạc trên núi Vũ Sơn , cùng trong một xóm có 2 chùa , cùng một Sư Tổ trụ trì, nên chùa Linh Sơn được gọi nôm là “chùa mẹ” và chùa Đồng Nhân được gọi là “chùa con”, nên hàng ngày Sư Tổ phân công các Pháp tử Pháp tôn thay nhau sang chùa Đồng Nhân hương khói , tụng Kinh chiều xong thì trở về chùa Đại Tráng , tối đến học bài , ngồi thiền và nghỉ ngơi. Nên việc khắc mộc bản bộ “y tông tâm lĩnh”,đem in và đóng thành sách được làm tại chùa Linh Sơn Đại Tráng là thích hợp nhất . Vì chùa Linh Sơn là chốn tùng lâm , các Thầy Tổ , sư huynh , sư đệ , Pháp tử , Pháp tôn gồm mấy chục người cùng tu trong một chùa . Ngoài thợ khắc mộc bản , các quý thầy là một lực lượng rất đông để chấp lao phục dịch cho công việc này .
Sư Tổ LQHT xuất gia tu tại chùa Linh Sơn và khai sáng chùa Đồng Nhân nên kiêm cả 2 chùa , nếu nói Sư Tổ trụ trì chùa Linh Sơn thì cũng đúng , mà nói Sư Tổ trụ trì chùa Đồng Nhân thì cũng phải !
Còn từ đâu có câu “…trước năm 1945 các bản khắc gỗ này được nhân dân địa phương chuyển sang lưu giữ trong kho của chùa Linh Sơn” , cũng chỉ là đồn đại . Vì chùa Đồng Nhân từ khi xây dựng xong , từ thời vua Tự Đức năm 1877 đến thời vua Bảo Đại năm 1945, khách đến chùa lễ toàn là hàng quan , xung quanh gần chùa nơi đây xưa kia vắng vẻ , nhà thưa , ruộng vườn rộng , mỗi lần nhìn thấy các quan đến chùa là dân chúng đã mọp người , tự họ hầu như không có đến chùa Đồng Nhân . Sau khi chuyển đổi chính quyền năm 1945 , thời vua quan không còn , khách đến chùa chỉ là dư âm con cháu các hàng quan trên tỉnh về lễ hành hương , còn dân thôn bản xóm mọi việc trong làng đều lễ ở chùa Linh Sơn , nếu có lễ ở chùa Đồng Nhân thì may ra có ngày tết , còn ngày thường hầu như họ cũng không có việc gì liên quan đến chùa Đồng Nhân . Mà sau năm 1945 chùa Đồng Nhân đông sư lắm , gồm có cụ Tổ Đàm Nga nuôi sư bà Đàm Lan , Đàm Tĩnh , và sư bà của con là Đàm Xuân , kế tiếp sư bà Đàm Xuân nuôi sư phụ của con là Đàm Đức , sư ông Liên , sư ông Thành . Chùa Đồng Nhân luôn có các đời sư tiếp nối chưa dứt đoạn bao giờ , chưa từng thấy kể việc chuyển ván khắc mộc bản bộ “y tông tâm lĩnh” từ chùa Đồng Nhân sang chùa Linh Sơn bao giờ . Mà trước năm 1945 , hay sau năm 1945 thì ở chùa Đồng Nhân cũng có sư trụ trì , cũng có nhà kho , sao vô duyên vô cớ nhân dân trong vùng lại vào trong kho chùa Đồng Nhân chuyển ván khắc gỗ mộc bản bộ “y tông tâm lĩnh” sang kho chùa Linh Sơn ??? cho nên việc đó cũng chỉ là giả định . Còn thực tế thì năm 1982 , việc người của tỉnh Hà Bắc chuyển ván khắc mộc bản bộ “ y tông tâm lĩnh” từ chùa Linh Sơn bốc lên ô tô chuyển về Bắc Giang thì có chính quyền địa phương , sư phụ Đàm Đức trụ trì chùa Linh Sơn và dân thôn chứng nhận , cả làng ai cũng biết !!!
Còn Pháp tử của Sư Tổ LQHT là trưởng Tăng Thanh Nhượng kế tiếp trụ trì chùa Đồng Nhân sau khi Sư Tổ LQHT viên tịch , năm 1849 đã thị giả Sư Tổ LQHT sang Pháp , còn tại thời điểm xây dựng chùa Đồng Nhân (1875-1877) thì kiêm trụ trì chùa Y Na và chùa Thiên Tâm , công việc Phật sự đa đoan nên không về hưng công được, vì thế trong văn bia dựng chùa không có ghi danh , sau khi viên tịch tượng được thờ cạnh tượng Sư Tổ LQHT tại chùa Đồng Nhân ( hai thầy trò) .
Còn 4 chiếc cột phạt trong chùa , mắt thấy , tai nghe , ai cũng chạm vào được, đôi khi con chỉ giới thiệu là “ Sư Tổ có lời thề phạt cột trong ngày dựng khung chùa” , còn lời thề phạt cột đó có ý chỉ như thế nào thì con chưa từng nói , vì đấy là Thiên Cơ của nhà Phật , con không đủ đức và trí tuệ để bàn luận đến !
Ngày nay nhờ Hồng Ân Tam Bảo gia hộ , nhờ Sư Tổ tỏa bóng chở che, nhờ ơn sự nuôi dạy của sư phụ , nhờ sự giúp đỡ của chính quyền và nhân dân địa phương , đã tạo điều kiện cho con hầu Phật , hầu Tổ , tu tập cho tốt , nên quang cảnh chùa ngày một sạch đẹp khang trang .
Chùa của các Tổ để lại là chùa cổ , kiến trúc xây dựng kết cấu riêng biệt từng phần ghép lại , nếu phá đi xây dựng lại hoàn toàn thì mới hết nhiều tiền ,còn nếu hỏng đâu trùng tu sửa chữa đấy thì kinh phí không hết là bao , vừa giữ được gốc tích của Sư Tổ để lại , vừa giữ gìn được của Thường Trụ Tam Bảo , vừa bảo vệ được nguồn Linh Khí của chùa vô cùng quý giá được hội tụ bởi thời gian , lại tránh được lãng phí tiền của của nhân dân . Còn bao nhiêu người nghèo khổ trên đất nước Việt Nam và trên thế giới cần được cộng đồng giúp đỡ , vì thế cho nên “TIẾT KIỆM LÀ QUỐC SÁCH” !
Ngày 13 tháng 5 năm 2018 ,( ngày 28 tháng 3 năm Mậu Tuất .)
12