|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 3 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3
Kết quả 7 đến 8 của 8

Chủ đề: Đức Phật Kể Về Cuộc Đời Ngài (Phật Nói Kinh Phổ Diệu)

  1. #7
    Thành viên vinh dự 123456789 đã tắt Mức độ Uy tín 123456789's Avatar
    Ngày tham gia
    Jun 2009
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    428
    Credits
    809,542
    14
    Advanced
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần
    Thanks
    103
    Thanked 61 Times in 55 Posts
    Rep Power
    9

    Mặc định





    PHẬT NÓI KINH PHỔ DIỆU

    Hán dịch: Đời Tây Tấn, Pháp sư Trúc Pháp Hộ, người nước Nguyệt chỉ
    Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

    -o0o-

    QUYỂN VII

    Phẩm 21: QUÁN SÁT CÂY


    Phật bảo các Tỳ-kheo:

    -Khi Bồ-tát đã thành tựu quả vị Chánh giác, chư Thiên đi đến ca ngợi Phật xong, Như Lai ngồi ngay ngắn, nhất tâm chăm chú nhìn cây Bồ-đề, mắt không hề chớp. Thiền duyệt làm thức ăn, giải tuệ làm thức uống, an ổn không hề tổn hại. Suốt bảy ngày đêm nhìn cây Bồ-đề nơi đạo tràng để báo ân cây. Qua bảy ngày xong, Thiên nhân cõi Dục, mỗi người mang theo một vạn bình nước thơm, Thiên nhân cõi sắc cũng mang theo nước thơm tắm rửa Ngài như vậy, tất cả cùng đi đến chỗ Phật, dùng vô số các loại hương thơm tắm rửa Phật trước tiên. Chư Thiên, Long thần, Càn-đạp-hòa, A-tu-luân, Ca-lưu-la, Chân-đà-la, Ma- hưu-lặc dùng nước thơm tắm thân Như Lai. Nước thơm chảy tràn đầy, văng ướt những người này. Nhờ ân nước thơm, đều phát ý đạo Vô thượng Chánh chân.

    Bấy giờ chúng sinh đều nhờ ân hương xông, hương thơm không rời thân thể. Khi ấy các Thiên tử trở vào cung điện, không còn nghe mùi hương thơm nào khác.

    Phật bảo các Tỳ-kheo:

    -Có một Thiên tử tên là Phổ Hóa, gieo mình sát chân Phật rồi ngồi dậy chắp tay bạch hỏi Phật:

    -Phật ngồi bên gốc cây Bồ-đề trong suốt bảy ngày, là ngồi thiền định Tam-muội, vậy định đó tên là gì?

    Đức Thê Tôn dạy:

    -Định đó tên là Duyệt thực. Đức Như Lai dùng Duyệt thực định ý này suốt bảy ngày đêm nhìn cây Bồ-đề không chớp mắt.

    Khi ấy Thiên tử Phổ Hóa dùng kệ khen ngợi.

    Luôn phụng hành các hạnh

    Thiền duyệt sinh oai lực

    Khiến ma mất đường đi

    Tự gieo mình lạy Phật

    Về nương dưới chân Ngài

    Với tâm niệm vui mừng

    Bấy giờ các Thiên tử

    Cũng vui mừng khôn xiết

    Các Thiên nhân tịch định

    Nếu biết chủng tánh ấy

    Thì hết dâm, nộ, si

    Trí tuệ sâu vô cùng

    Trừ nghi của Thiên nhân

    Cớ sao có mười lực

    Biết rõ thấu mười phương

    Và các pháp giải thoát

    Thương xót, luôn bảy ngày

    Ý sạch như hư không

    Ngồi yên thật bất động

    Nhìn cây không chớp mắt?

    Bậc Sư Tử tôn quý

    Cớ sao ngồi bảy ngày

    Nhìn ngắm mãi cây này

    Cho nên lặng dấu vết?

    Từ nơi chỗ lập nguyện

    Sư tử vì tất cả

    Đạt được chỗ bản nguyện

    Ngồi yên không đứng dậy

    Giúp cho tâm Thế Tôn

    Ngay chỗ ngồi an ổn

    Đấng Thập Lực như vậy

    Vâng hành các lời dạy

    Biết gốc ngọn Thiên nhân

    Sở nguyện của đời trước

    Nghe kinh điển chỉ dạy

    Luôn tuân lời dạy bảo

    Đấng Thập Lực như vậy

    Không sợ, nguyện đầy đủ

    Cho nên ngồi bảy ngày

    Không hề rời khỏi tòa

    Dũng mãnh chỉ quán cây

    Hàng phục được tất cả

    Bình đẳng ngồi đạo tràng

    Diệt trừ các trần lao

    Thanh tịnh và sâu xa

    Do vậy an chúng sinh

    Bởi đó nên xuất gia

    Thực hành pháp chân chánh

    Xa lìa các tỳ vết

    Không còn những sợ sệt

    Nên thành tựu Thánh chúng

    Không tạo hạnh phi pháp

    Năng nhẫn, ân, ái, hữu

    Và các vô tninh hành

    Chặt gốc rễ các kết

    Xem chúng như bụi đất

    Thấy chúng sinh từ lâu

    Vì chấp ngãngã sở

    Chìm đắm trong ấm cái

    Ta biết là trừ hết

    Từ xưa chứa hạnh này

    Tấp bến bờ mê hoặc

    Rốt ráo các ấm cái

    Dùng tuệ trừ sạch ngã

    Ta đoạn dục sân hận

    Chúng sinh trong ngu mê

    Như trăng ở trong nước

    Ta dẹp khiến không còn

    Hạnh ấy không náo loạn

    Trong ý tự hiểu rõ

    Xưa kia đã hàng phục

    Tất cả đều dứt sạch

    Hiện tại vì các ngươi

    Chứa si, đọa ngục lớn

    Phật nhổ sạch tất cả

    Không còn trở lại đây

    Đã trừ các ấm cái

    Giúp diệt gốc ấm cái

    Tiêu diệt bốn điên đảo

    Chữa sạch hết không còn

    Các tưởng này nghĩ quấy

    Ta biết gốc kinh pháp

    Nên khiến diệt trừ sạch

    Không còn chuyển lại nữa

    Thân khổ sáu mươi lăm

    Lỗi có ba mươi cấu

    Hiện tại có bốn mươi

    Sinh ra có mười sáu

    Hiện tại có mười tám

    Như vậy hai mươi lăm

    Ở đạo tràng dứt hết

    Thánh tài có mười hai

    Người sợ, hai mươi tám

    Ta do vượt nghiệp đây

    Sức tinh tấn vượt qua

    Giác ngộ rồi, không lui

    Phân biệt năm trăm việc

    Ta đã thông suốt hết

    Trăm ngàn pháp xưa kia

    Dứt sạch các kiết này

    Chín mươi tám nguồn gốc

    Đầy đủ các nơi chốn

    Chỗ chúng sinh nương gá

    Dứt nghỉ các thói quen

    Lưới tà kiến ngu tối

    Cạn bốn sông trần lao

    Khiến không còn tự tại.

    Đức Thế Tôn thuyết pháp ban tuyên ngôn giáo. Ngài dạy phải bỏ tham dục, nịnh hót và cái ngã của mình. Chí của Ngài sáng suốt bao la. Thương xót cuộc đời, Ngài dùng luật chính là để hướng dẫn cách nhổ phăng tất cả tham lam, để cho các hàng đệ tử tiêu trừ hạnh tà vạy, phụng thờ hạnh chân chánh, trừ các tiếng tăm, tinh tấn diệt hết phiền não, vượt qua được bến bờ sinh tử, khiến cho không còn cái ngã của mình. Công huân thiền định đem lại định ý, vượt qua bốn dòng nước dốc, và các nghiệp ưu, kết, tự đại, phóng dật, hàng phục những việc này, làm cho vĩnh viễn không còn. Do chân chánh cho nên đem lại định ý, chế ngự trần lao, tiêu các vọng tưởng, giống như nhổ bậc rễ cây. Ý chí vượt qua bờ bên kia làm cho hết thảy không còn, dứt bỏ nơi chốn, rống tiếng sư tử, sức lực rất lớn. Tự tại trong ba cõi, không phụ thuộc gì, cảnh giới đều diệt, dùng thiền minh trí cắt bỏ oán thù, giống như Thiên đế làm cho các tội lỗi như mạng lưới của mình đều dứt hết.

    Ngài dùng ba mươi sáu hạnh tinh tấn, ở ngay giữa cuộc đời dùng binh lực trí tuệ dứt tuyệt hết ái. Đó chính là các cội rễ trần lao trói buộc, dính mắc, là gốc độc khổ cùng tột. Ngài dùng sức trí tuệ sáng suốt cắt sạch không còn. Dùng mắt trí khéo sửa trị làm cho thanh tịnh.

    Những người chân chánh, Ngài dùng oai lực của thuốc minh để trị bệnh vô minh, khiến cho cây si to lớn không còn gốc rễ. Ngay nơi cảnh giới này thực hành hết sức chí thành. Ngài dùng tâm phá hủy đất chết sân giận. Tâm ý ưa thích việc khác, thì đó là oán tặc.

    Ta múc khô cạn mười hai biển để dập tắt khói lửa của cảnh giới tư tưởng, hiển chiếu tam đạt, diệt các trần cấu, đốt sáng ngọn lửa, thích cửa giải thoát, tiêu sạch tỳ vết cho nên dạy bảo; an ủi tất cả, bỏ tưởng gai góc, rỗng không âm vang. Hiểu rõ tinh tấn, cầu sự thanh tịnh. Giống như cọ cây phát ra lửa sáng.

    Lại, như suối nguồn, tâm Ngài vắng lặng. Ngài dùng binh lực trí tuệ dẹp sạch tâm nhơ nhớp, đem lại định ý, gọi đó là cầm cờ, vâng giữ lời dạy bảo. Tự mình có thể hiểu rõ, hàng phục xong mọi việc, đem lại từ tâm. Nhân năm món dục này mà biết được sự giàu sang và trụ nơi các hạnh, vứt đi sự dối trá. Từ nơi gốc mà khởi trần lao, đó là chỗ của các kết chướng ngại, đánh nhau không hòa. Ta rõ suốt tất cả, đạt được định Tam-muội, biết hết những việc bên trong, xây dựng sự hổ thẹn; hữu tưởng, vô tưởng, từ đó mà đạt được; thâu hoạch được tất cả hạnh này, rõ suốt những gì mình có, vứt bỏ hết thảy tư tưởng tất cả sự trói buộc. Người thực hành như vậy, vứt bỏ không còn gì?

    Dùng đức tinh tấn mà hàng phục tất cả, đạt được ba môn giải thoát. Do vì lẽ ấy, không vì không có duyên mà tưởng hạ liệt, vui, vô thường, chỉ là cái ngã của mình nhưng cái gốc tạo tưởng, cầu sáu suy thì ở dưới gốc cây Bồ-đề, ta dứt trừ hết. Tất cả những sự vô thường này là sự uế trược rộng lớn. Dùng minh đạt của bậc Thánh tiêu trừ các ái dục, vượt hơn cả ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Người ôm lòng ái dục như lơ lửng trên không; hiểu rõ tam đạt, nhan mạo đẹp đẽ tuyệt vời dứt hẳn sinh tử, vượt qua biển lớn. Do sức tinh tấn cho nên vượt qua dâm, nộ, si. Dùng hạnh vi diệu chặc đứt ngã chấp. Sáu độ vô cực, tiêu ức trần lao, ý dứt các khổ trong đường sinh tử. Bấy giờ thích đoạn cả trước sau, không rơi vào nhị biên, bình đẳng đối với tất cả, đã đạt giải thoát. Các chúng tà kiến dị học đạt được cam lộ, không còn một ai, dứt trừ hết gốc rễ sinh tử, bốn đại không còn, cũng hết các nhập, cầu trí tuệ báu được nhiều vô số. Sự sáng suốt quý báo của đạo là đưa đến vô sở úy, là sự an lạc nội tại của vô lượng Phật. Ít mong cầu, làm đúng sự giáo hóa, phân biệt nguồn gốc, những việc làm ở đời trước thì ta biết rõ. Bởi do trong hàng ức kiếp từng bố thí nhiều châu báu và vô số và cam lộ cho nên thông suốt: môn học này. Ưa hạnh mềm mỏng, nghe vô số lời dạy về pháp ở đời, cũng lại phân tích duyên khởi là cùng sinh, cùng diệt; tâm khởi ý động như ngựa đồng hoang. Mắt ta thanh tịnh sáng đẹp, nhìn thấu mười phương. Xem thấy tất cả chúng sinh như hạt trái cây trong lòng bàn tay. Việc làm ở đời trước lại cũng rõ ràng như thế. Trong hàng ức kiếp đã tu các độ vô cực, hiểu hết cái không thật của niệm; biết bao lần tỉnh giác cái nghiệp điên đảo mà trong quá khứ chư Thiên đã từng tranh cãi, hễ kia có như thế thì đây cũng vậy.

    Bấy giờ ta đã đến nơi bất tử. Sở dĩ người có Thập lực thực hành từ tâm, là vì thương nhớ chúng sinh cho nên hành Từ lực. Nay ta đã đạt pháp cam lộ nên với Thập lực, hành Bi lực giáo hóa tất cả. Vì vậy cho nên khiến ta ở trong pháp cam lộ thường thực hành Hộ (xả) lực, hàng phục tất cả. Do sự giáo hóa này ta đi vào cõi bất tử. Sở dĩ thực hành tâm hỷ là làm vui tất cả. Vì vậy Hỷ lực hàng phục tất cả. Thế nên xây dựng và ở trong pháp cam lộ. Nhớ nghĩ mười lực trải qua kiếp số nhiều như cát sông Hằng, gặp chư Phật trong quá khứ và cúng dường các Ngài, vì lẽ ấy được ở trong pháp cam lộ. Ta vốn có lời thề nguyện: “Nếu không hàng phục được ma quân, không giáo hóa tà kiến thì ta không rời chỗ ngồi”. Ta không buông lung, vượt qua bờ bên kia, phá tan mạng lưới si mê từ vô số kiếp, trụ trí Kim cang để đến Thập lực, không hề dính mắc. Hàng phục các lậu hoặc, làm cho không còn. Đạt được lực đó mới rời chỗ ngồi. Tắm rửa sạch sẽ, không còn nhơ nhớp; bây giờ Đấng Thập Lực Hộ Thế tự tại vượt qua bờ kia của ba ngàn thế giới.

    Vững chắc như kim cang, thường tu hạnh bình đẳng. Ngàn ức chư Thiên cúng dường vô lượng và các ngọc nữ không thể kể xiết.

    Phật tử như vậy đều có nhân duyên, ngồi tòa Hiền thánh được tự tại lớn.

    Ngàn bình báu dưới gốc cây đựng vô số nước thơm để tắm rửa Đấng Hộ Thế. Ba ngàn thế giới do vậy được tự tại. Phật tử như vậy đều có nhân duyên.

    Sở dĩ suốt bảy ngày đêm Bồ-tát không rời tòa ngồi, chăm chú nhìn cây, vì bảy ngày đêm đó nhìn cây Bồ-đề, Ngài cảm hóa bảy mươi ức người khiến họ phát khởi đạo tâm. Suy nghĩ vắng lặng. Đất chấn động sáu cách.

    Bấy giờ Đức Phật từ tòa sư tử đứng dậy, tâm Ngài an vui, thân Ngài nhẹ nhàng thoải mái, là việc đúng lúc, ngay nơi đạo tràng nhìn cây Bồ-đề, giống như sư tử, không hề có sự sợ hãi, thiền tư pháp môn giải thoát, hạnh của Hiền thánh.

    Phẩm 22: THƯƠNG NHÂN DÂNG BÁNH

    Bấy giờ nhóm Đề-vị-ba-lợi cùng năm trăm thương nhân kết bạn, lúc ấy cây cối, hoa trái sum suê tươi tốt, phát ra âm thanh của Phật bảy ngày không lay không động.

    Lúc ấy có một vị Phạm thiên tên là Thức Càn, ở cõi Phạm thiên thấy Phật mới đắc đạo, ngồi yên tịnh trong bảy ngày, chưa có người dâng cúng thức ăn, nghĩ: “Ta phải tìm người khiến dâng thức ăn lên Phật”, liền khiến năm trăm thương gia đều bị trở ngại không đi được.

    Thức Càn đời trước là bạn bè của năm trăm thương nhân. Vì muốn độ họ cho nên mới làm ra như vậy.

    Đề-vị-ba-lợi rất sợ hãi, cùng với mọi người nhóm họp bàn luận. Chư Thiên ngay khi ấy thuyết kệ:

    Như Lai thành Phật đạo

    Sở nguyện đã đầy đủ

    Các ngươi dâng thức ăn

    Nhân đây Phật nói pháp.

    Bấy giờ năm trăm người cùng đi đến chỗ Thọ thần. Phạm thiên hóa làm một vị thần phóng ra ánh sáng, hình tượng phân minh, nói với các thương nhân:

    -Nay có Đức Phật đang ở tại nước Câu lưu, bên dòng sông Ni-liên, chưa có ai dâng cúng thức ăn. Các ngươi là những người gặp may mắn trước tiên. Nếu có Thiên ý ấy chắc chắn sẽ được phước báo lớn. Thương nhân nghe tên Phật đều rất vui mừng, nói:

    -Phật chắc là Bậc đặc biệt rất tôn quý, Thiên thần cung kính, không phải hạng phàm phu.

    Liền trộn bột với mật ong rồi cùng đem đến dưới gốc cây cúi đầu dâng lên Phật. Đức Phật nghĩ: “Chư Phật trong quá khứ vì thương xót, nhận vật của người cúng dường, pháp của các Ngài đều cầm bình bát, không nên như các đạo nhân khác đưa tay để nhận thức ăn”.

    Khi ấy có bốn vị Thiên vương ở trên núi Pha-na được bốn chiếc bát bằng đá xanh muốn dùng chiếc bát đó để chứa thức ăn. Bấy giờ có vị Thiên tử tên là Chiếu Minh bảo với bốn vị Thiên vương:

    -Nay có Đức Phật tên là Thích-ca Văn đáng dùng chiếc bát này. Đây không phải là đồ dùng của các vị. Nay Ngài đang nhận thức ăn. Có thể đem đến dâng lên cúng dường Phật.

    Khi ấy bốn Thiên vương liền cùng với Thiên tử đem hoa hương, kỹ nhạc, cờ lọng và bát, nhanh chóng như thời gian duỗi cánh tay, hạ xuống đến chỗ Phật và cùng dâng lên cúng dường Phật. Đức Phật nghĩ: “Nếu như ta chỉ nhận một cái thì sẽ không vui lòng những người khác Ta nên nhân hết”.

    Đề-đầu-lại vương đem bát dâng lên Phật trước tiên. Phật liền nhận, nhân đó đọc kệ:

    Nay dâng bát Thế Tôn

    Sẽ được pháp khí báu

    Tự được bát vắng lặng

    Tâm ý không quên mất.

    Tiếp theo Tỳ-lưu-lặc vương dâng bát. Phật liền nhận và nói kệ:

    Ai dâng bát Như Lai

    Tâm họ được chánh niệm

    Tứ Thiên vương giữ an

    Cho đến ngộ thanh tịnh.

    Kế đến, Tỳ-lưu-la-xoa vương dâng bát. Phật liền nhận và nói kệ:

    Người trì bát thanh tịnh

    Tâm tịnh dâng Như Lai

    Thân tâm thường nhẹ nhàng

    Thiên, Long, Thần khen ngợi.

    Sau cùng Tỳ-sa-môn vương dâng bát. Phật liền nhận và nói kệ:

    Giữ giới không khuyết phạm

    Dâng bát lên đầy đủ

    Tín thí tâm không loạn

    Khiến đức không khuyết giảm.

    Phật nhận bát xong, Ngài chồng lên trên bàn tay trái, tay phải đè lên, bốn cái bát liền hiệp lại thành một, hiện ra bốn lằn biên, nhân đó lại khen:

    Đời trước Ta cúng bát

    Nên có quả báo này

    Nay được bốn bát đây

    Bốn vương thần đến đủ.

    Phật nói kệ khen xong, liền dùng bát này nhận bánh mật ong của thương nhân cúng dường. Ngài chú nguyện cho họ:

    -Nay người bố thí muốn cho người thọ thực được đầy đủ khí lực, sẽ khiến cho gia đình thí chủ đời đời đạt mong ước, được sống lâu, sắc; đẹp, sức khỏe và được chiêm ngưỡng (chư Phật), được vui vẻ an ổn, không bệnh tật, được trí tuệ biện tài, khỏe mạnh trọn đời. Các tà ác quỷ không thể đến gần nhiễu hại. Do có ý tốt lập được công đức. Các thiện quỷ thần sẽ thường ủng hộ, chỉ dạy nền đạo, được lợi ích, hòa hợp không truân chuyên vất vả, không hoạn nạn khó khăn.

    Người có chánh kiến, do có lòng tin ưa cung kính, thanh tịnh không hối hận, cúng dường cho Bậc đạo đức sẽ đưa đến phước đức, lợi ích rất lớn, lần lần tăng thêm sự tốt lành, không còn những điều bất lợi.

    Mặt trời, mặt trăng, năm ngôi sao, hai mươi tám tinh tú, Thiên thần, quỷ vương thường theo hộ trợ. Bốn đại Thiên vương riêng khen thưởng người hiền.

    Đề-đầu-lại ở phương Đông, Duy-diễm-văn ở phương Nam, Duy- lưu-lặc-xoa ở phương Tây, Câu-câu-la ở phương Bắc, sẽ ủng hộ các ngươi khiến cho không gặp những điều tai nạn, có trí tuệ sáng suốt, học vấn sâu xa, kính thờ Phật, Pháp, Tăng; dứt bỏ pháp ác, không buông lung, hoàn toàn được an lành. Trồng phước được phước, hành đạo được đạo, do đời trước gặp Phật, nhất tâm phụng thờ, thừa sự nên từ đó sẽ đưa đến phước báo đệ nhất, ngay đời này được hộ trì, hiểu rõ được chân lý, luôn được giàu có sung sướng, tự đạt đến Niết-bàn.

    Các thương nhân nghe Phật chú nguyện xong đều phát ý đạo Vô thượng Chánh chân. Phật thọ thực xong, Ngài quăng chiếc bát lên hư không. Có vị Thiên tử tên là Thiện Phạm, liền đón lấy chiếc bát đem dâng lên Phạm thiên. Ngàn ức Phạm thiên đều cùng đi nhiễu quanh bát và cúng dường, thờ phụng.

    Do đức của Đức Thế Tôn không ai sánh bằng, mà Ngài lại khen ngợi công huân kia, do vậy nhờ công đức này, các thương nhân trong đời sau đều sẽ được làm Phật hiệu là Mật Thành Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

    Khi ấy, Đức Đạo Sư thọ ký xong, sau đó Ngài giáo hóa vô số Bồ-tát. Người được thọ ký đối với Phật đạo không còn bị thoái chuyển. Nghe Phật thọ ký, họ vui mừng hớn hở. Khi ấy huynh đệ của họ đồng chắp tay quy y, đem hết thân mạng hướng về Đức Như Lai.

    Phật bảo các Tỳ-kheo:

    -Như Lai thành tựu quả vị Chánh giác xong, liền dùng thần thông dời tòa ngồi đến động đá. Nhớ đến nguyện xưa, muốn độ chúng sinh.

    Ngài suy nghĩ: "Sinh tử vốn từ nơi mười hai nhân duyên; duyên từ pháp khởi liền có sinh tử. Nếu pháp diệt thời sinh tử diệt. Do tự gây ra như thế nên tự nhận lấy như thế. Nếu không khởi lên thì liền tự chấm dứt. Tất cả chúng sinh lấy ý làm tinh thần. Tinh thần mù mịt, mơ màng không có hình tướng, tự khởi thức tưởng, theo hành thọ thân. Thân vô thường không có chủ, thần vô thường không có hình. Tâm thần thay đổi, vẩn đục khó lắng trong, tự sinh, tự diệt chưa từng chấm dứt, niệm này trôi qua, niệm khác đến, như cây cỏ trôi trong nước, như bọt trong nước mất đi liền sinh lại ngay. Đến như ba cõi: Dục giới, sắc giới, Vô sắc giới, chín địa của tinh thần, cũng đều hệ thuộc nơi thức, không tránh khỏi khổ, mờ mịt tối tăm không thể tự biết, cho nên gọi là si, đâu biết cầu đạo. Đạo rất nhiệm mầu, rỗng lặng, vô niệm, không thể dùng ý phàm để biết được.

    Đạo thuật của thế gian có chín mươi sáu loại đều tin việc cúng tế, ai biết đó là sai lầm. Họ đều ưa sống cầu an, ham muốn mùi vị, ưa sắc đẹp, âm thanh, cho nên không thể ưa thích Phật đạo.

    Phật đạo thanh tịnh, vô sở hữu. Xét bản thân và vạn vật đều vô thường. Giả sử ta vì họ nói thế gian vô thường, thế gian đều khổ, thân này không phải là của ta, rỗng không, không sở hữu thì có ai tin?

    Ngài muốn yên lặng, không nói pháp cho thế gian, liền nhập định ý. Hào quang giữa chặng mày của Đức Phật chiếu sáng lên Thiên đế. Thiên đế biết Phật không muốn thuyết kinh, thương nghĩ ba cõi sẽ bị thiệt thòi không biết được đạo xuất thế, chết liền bị đọa trong ba đường ác, biết lúc nào mới thoát ra được! Thiên hạ lâu xa mởi được gặp Phật ra đời. Phật khó được gặp, giống như hoa Linh thoại. Ta nay phải vì mọi người cung thỉnh, cầu xin Đức Phật thuyết pháp”, liền cùng với Bàn-già-thức hạ xuống hang đá thì khi ấy Phật vừa định ý. Ông liền bảo Bàn-già-thức đánh đàn cầm ca ngợi công đức bản nguyện của Phật bằng bài kệ:

    Nghe khen ngợi thập lực

    Diệt ngăn che, tịch lặng

    Hào quang thấu bảy trời

    Đức thơm hơn chiên-đàn

    Thượng đế thần diệu đến

    Khen ngợi muốn thấy Phật

    Phạm, Thích đem lòng kính

    Cúi lạy muốn được nghe

    Phật vốn có hạnh nguyện

    Trăm kiếp siêng tinh tấn

    Bố thí khắp bốn loài

    Mười phương thọ ân lớn

    Giữ giới rất thanh tịnh

    Thương xót giúp chúng sinh

    Dõng tuệ nhập thiền trí

    Đại Bi mở dạy kinh

    Chứa vô số khổ hạnh

    Hôm nay được công đức

    Sức giới, nhẫn, định, tuệ

    Hàng ma đất vang động

    Đức che khắp trời đất

    Thần trí hơn linh vương

    Tướng tốt không thể sánh

    Bát thanh rúng mười phương

    Chí cao như Tu-di

    Sạch đẹp không ai bằng

    Lìa hắn dâm, nộ, si

    Không còn hoạn già chết

    Cầu xin Ngài xuất định

    Thương xót các Thiên nhân

    Giúp cho tạng pháp báu

    Giảng tuệ báu cam lộ

    Khiến giải hết buồn lo

    Hết nguy, được an ổn

    Mê hoặc thấy Chánh đạo

    Tà nghi thấy lời đúng

    Tất cả đều nguyện ưa

    Muốn nghe nhận không chán

    Sẽ mở pháp bất tử

    Thương xót dạy tất cả.

    Bấy giờ Đức Thế Tôn xét theo tập tục của người đời, Ngài tự nghĩ: "Pháp này rất sâu xa, chứng nhập không bờ bến, thành Tối chánh giác, tịch tịnh vi diệu, khó đạt khó biết. Không phải dùng tâm để suy nghĩ, không thể dùng lời nói mà có thể trình bày. Không phải là chỗ phàm thánh có thể đạt được. Tất cả những lời dạy bảo không có thể học theo, bảo tồn căn nguyên đạt đến diệt độ vậy. Tất cả chỗ đạt được hoàn toàn không đắm trước mới đến chỗ hoàn toàn vô sinh, vô cực, mát mẻ, không đạt được chỗ nào hết, hoàn toàn không có sở hữu, vượt qua sáu cõi, không tưởng, không nguyện, không tóm thâu, không luận bàn, không có dạy bảo, không có âm vang, không hữu, không tập vắng lặng các hành, đến nghiệp vô đoạn vô vi. Ví dầu ta vì mọi người mà chỉ dạy gốc ngọn của nghĩa này: Vạn vật vô thường, có thân đều có khổ. Thân không phải là thân, rỗng không, vô sở hữu. Mọi người không hiểu trần lao, hư dối, khổ đau. Các sở hữu về gia đình, quyến thuộc, thân thích đều không phải của con người. Lời nói đúng nhưng giống như phản ngược thì ai có thể tin. Chẳng bằng ta im lặng”.

    Bấy giờ Đức Thế Tôn nói kệ:

    Sầu xa điềm đạm

    Sáng chói không nhơ

    Ta đã đến được

    Cam lộ vô vi

    Nay Ta nói ra

    Mọi người không hiểu

    Như vậy chẳng bằng

    Nay Ta im lặng

    Trừ bỏ ngôn từ

    Không nghĩ không đắc

    Như vậy tự nhiên

    Giống như hư không

    Tâm tư pháp ý

    Để thần thức thoát

    Vô niệm đứng đầu

    Biết được người khác

    Đây không thể dùng

    Văn tự nói được

    Vì vào đạo nghĩa

    Không vào chuyên môn

    Chư Phật quá khứ

    Đều vì chúng sanh

    Tri thức các Ngài

    Theo nhân duyên ấy

    Nói theo nghiệp này

    Đều không có pháp

    Kia cũng không có

    Hoặc có hoặc không

    Đều do nhân duyên

    Mà có sinh già

    Kia cũng không nghĩ

    Hoặc có hoặc không

    Trăm ngàn ức kiếp

    Không thể tính kể

    Ta trong đời trước

    Tự theo chư Phật

    Chưa từng đạt được

    Pháp nhẫn như vậy

    Không ngã không nhân

    Cũng không thọ mạng

    Giả sử đã đạt

    Được pháp nhẫn này

    Thì không có sinh

    Chúng sinh không chết

    Đây là gốc tịnh

    Ngã pháp đều không

    Khi Phật Đăng Quang

    Thọ ký cho Ta

    Ta vì thương xót

    Vô lượng chúng sinh

    Không để chúng sinh

    Đến cầu thỉnh Ta

    Nay vì chúng sinh

    Cảm động Phạm thiên

    Khiến xuống khuyên Ta

    Nên chuyển pháp luân

    Nay chánh pháp Ta

    Thanh tịnh như thế

    Phạm thiên xuống đây

    Để khuyến trợ Ta

    Chuyển pháp chân chánh

    Vi diệu ly cấu

    Chúng sinh nhờ hiểu

    Giải thoát thần thức.

    Phẩm 23: PHẠM THIÊN KHUYẾN THỈNH THUYẾT PHÁP

    Phật bảo các Tỳ-kheo:

    -Khi ấy Như Lai bày tướng ánh sáng oai thần giữa chặng mày. Ánh sáng đó tên là Chiếu sinh, khiến trăm ngàn Phạm thiên đều phát tâm. Ánh sáng đó chiếu khắp ba ngàn cõi Phật. Khi ấy Phạm thiên Thức Càn nương Thánh chỉ làm đúng theo như tâm niệm của Phật.

    Thế Tôn lặng yên không chịu thuyết pháp. Phạm thiên nghĩ: “Ta nay nên đi đến chỗ Phật khuyến thỉnh Ngài chuyển pháp luân”.

    Lúc này Phạm thiên Thức Càn cùng với sáu vạn tám ngàn Phạm thiên quyến thuộc vây quanh đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Ngài rồi lui đứng một bên, thưa Phật:

    Cúi xin Đức Thế Tôn, thế gian không ai cứu độ, nay sắp hư hoại. Vì sao? Vì Như Lai chí chân đã đạt đạo Vô thượng Chánh chân, là Bậc Tối Chánh Giác, định ý vắng lặng, không chịu thuyết pháp. Thế gian vướng mắc các khổ, chìm trong ba cõi, xin Ngài chuyển pháp luân giáo hóa chúng sinh.

    Bấy giờ đọc kệ:

    Cúi xin Thế Tôn

    Thanh tịnh chúng sinh

    Ai sẽ khuyên bảo

    Hàng ức chúng sinh

    Đem tuệ bố thí

    Nghe Bậc Chánh Giác

    Giảng dạy chánh pháp

    Trừ các nghịch tặc

    Theo thời đánh lên

    Vô lượng trống pháp

    Nhân đó thổi lên

    Vô lượng ốc pháp

    Sẽ xây dựng lên

    Cờ pháp cao tột

    Ai sẽ mở bày

    Pháp lớn rực rỡ

    Ắt sẽ nổi mây

    Tuôn mưa pháp lớn

    Nguyện thường rải khắp

    Các tòa đại Thánh

    Sẽ chữa trị lành

    Hết thảy tật bệnh

    Diệt trừ trần lao

    Các lửa thiêu đốt

    Vì họ chỉ bày

    Đạo của vắng lặng

    An lành mát mẻ

    Không còn lo buồn

    Đạo của vô vi

    Dạy hướng về chân

    Thường khởi thương xót

    Hòa giải tranh cãi

    Ắt sẽ khai thông

    Pháp môn giải thoát

    Thuyết nghĩa chí thành

    Không còn sân giận

    Cho người mù tối

    Mở mắt nhìn thấy

    Chữa trị sạch hết

    Được pháp nhãn thượng

    Không phải trời người

    Và cả Phạm thiên

    Không phải Kiền-đạp

    Dân A-tu-luân

    Có thể chữa dứt

    Các bệnh nóng bức

    Chỉ có Thánh tôn

    Nhật nguyệt trong đời

    Vậy nên nay con

    Khuyên thỉnh Pháp vương

    Nay tạo lập hơn

    Tất cả chư Thiên

    Đem công đức này

    Khuyên thỉnh Như Lai

    Xin hãy chuyển vận

    Pháp luân vô thượng.

    Bấy giờ, Đức Thế Tôn lặng yên nhận lời. Phạm thiên Thức Càn thấy Phật lặng yên, thương xót chư Thiên, thế gian nhân dân, A-tu- luân, rồng, quỷ thần, muốn cho tất cả đều được độ thoát, liền đem các thứ hương chiên-đàn rải lên Phật, rồi bỗng nhiên biến mất.

    Khi ấy thần cây Bồ-đề tên là Pháp Minh, lại gọi là Pháp Lạc, Pháp Ý, Pháp Trì, đi đến trước chỗ Phật, bạch Phật:

    -Nay Đức Thế Tôn sẽ ở nước nào để chuyển pháp luân?

    Đức Phật bảo:

    -Chỗ Tiên nhân đọa xứ, trong vườn Lộc uyển, nước Ba-la-nại.

    Thọ thần bạch Phật:

    -Ở chỗ Tiên nhân trong vườn Lộc uyển, nước Ba-la-nại, nhân dân quá ít. Ngài không nên thuyết pháp ở đó.

    Phật bảo Thọ thần:

    -Chớ nên nói như vậy. Vì sao? Vì Ta trong đời trước ở tại nơi đó xây dựng đền thờ pháp. Sáu vạn ức lần ở trong đó cúng dường sáu vạn ức lớp các Đức Phật Thế Tôn và vô số các Tiên nhân đến ở nơi đó để tu học.

    Ở nước Ba-la-nại chư Thiên, Long thần đều cùng khen ngợi pháp lớn vô cùng và đều cúi đầu quy mạng. Ngàn ức chư Phật nhớ lại nguồn gốc đều ở giữa rừng cây Thần tiên này, chuyển bánh xe pháp, vắng lặng êm đềm, không có những sự vô trí tối tăm. Do đó, Ta cũng ở giữa rừng cây Thần tiên này chuyển bánh xe pháp.

    Phật bảo các Tỳ-kheo:

    -Bấy giờ Đức Thế Tôn, những việc đáng làm Ngài đã làm xong, không còn các hoạn nạn, đã dứt các chướng ngại, sạch các trần lao, không còn các sự cấu uế, hàng phục ma oán, thành Nhất thiết trí, thấy khắp mười phương. Được mười món lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng của chư Phật. Trí tuệ thông suốt, không còn trở ngại, dùng đạo nhãn Phật, Ngài xem xét khắp thế gian: Nay đây ai là người trước tiên sẽ lãnh thọ giáo pháp này. Người nào có thể lãnh hội giáo pháp đây một cách mau chóng? Người nào ít dâm, nộ, si, ta sẽ vì người đó thuyết pháp trước. Phật liền nghĩ đến uất-đầu-lam-phất là người có ít ba cấu. Ta sẽ đến đó. Phật vừa nghĩ đến liền biết vị đạo sĩ này đã từ trần cách nay bảy ngày. Vị đạo sĩ thứ hai cũng vừa qua đời ngày hôm nay.

    Khi ấy, từ trong hư không, Thiên thần bạch Phật:

    -Kính bạch Đức Thế Tôn, quả đúng như Đại Thánh đã biết, họ đều đã mạng chung.

    Đức Phật lại nghĩ: “Xưa phụ vương có cho năm người cùng đi theo hầu hạ giúp đỡ ta. Các đạo sĩ này đã trải qua sự cần khổ, có nhiều công phu. Nay ta nên vì những người này thuyết kinh pháp để chỉ dạy cho họ trước.

    Phật bảo các Tỳ-kheo:

    -Bấy giờ Đức Thế Tôn từ gốc cây đứng dậy, ngay khi ấy Ta tuyên bố với ba ngàn đại thiên thế giới khiến cho họ đều biết việc đó.

    Đức Phật lần lượt đi về phía trước, đến Lộc uyển, trong thành Ba-la-nại, là nơi của các Thần tiên ở, đến thẳng chỗ ở của năm người. Bấy giờ năm vị này thấy Đức Phật từ xa đi đến, cả năm người cùng giao ước với nhau: “Các bạn có thấy Sa-môn Cù-đàm đang đi đến không? Ông ta hoang mang vô định, không đạt được ý muốn, về việc phụng hành kinh giới và nhiều công huân tu tập thì ông ta làm ngược và sai với đạo nghiệp. Giả sử ông có đến đây, tất cả chúng ta chớ nên đứng dậy, cũng chẳng nên đón rước”. Nhưng khi năm người vừa nhìn thấy Đức Phật đi đến, với oai thần rực rỡ, Thánh đức vô lượng thì không thể gắng gượng ngồi yên được mà tự nhiên không ai bảo ai, đều cùng từ tòa đứng dậy, đến trước nghinh đón Đức Thế Tôn và cùng thưa:

    -Lành thay! Thánh Tôn!

    Rồi người thì rước lấy pháp y, người đỡ lấy bình bát, người đến trước trải tòa mời ngồi, người cúi đầu làm lễ và người đi lấy nước đến cho Phật rửa chân, khi ấy Đức Phật hỏi năm người:

    -Các vị đã giao ước với nhau không đón rước Thế Tôn, sao không giữ vững ý định? Ta nghĩ: Vì Ta cho nên các vị phải trải qua thời gian lâu dài không yên, gặp bao nhiêu khổ nạn. Nay Ta sẽ đền ân

    Các vị nên biết, Ta đã thành tựu được đạo quả Chánh giác, đạt đến Nhất thiết trí, thấy khắp mười phương, được thanh tịnh không còn các phiền não, thong dong tự tại. Đối với tất cả các pháp không còn bị trở ngại. Ta sẽ vì các vị thuyết pháp vượt khỏi sinh, lão, bệnh, tử. Bấy giờ năm người cúi đầu lạy sát chân Phật, ăn năn tự trách: -Chúng tôi ngu dối không biết điều chân chánh, kiêu mạn không phục.

    Nói xong, cung kính gieo mình sát đất, hết sức tự trách mình.

    Bấy giờ từ nơi thân Đức Thế Tôn phóng ra ánh sáng, ánh sáng đó chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới của chư Phật, không nơi nào là không chiếu đến. Trong ánh sáng đó tự nhiên xướng lên bài kệ:

    Thân Ngài trời Đâu-suất

    Giáng thần đến thai mẹ

    Tại vườn Lâm-tỳ-ni

    Sinh ra đi bảy bước

    Tức thời sư tử rống

    Tứ vương Thiên đế tiếp

    Âm thanh vượt Phạm thiên

    Rất quý trong ba đời

    Tiêu diệt các ác thú

    Ngài xuất gia học đạo

    Xây dựng hạnh cần khổ

    Đi đến cội Bồ-đề

    Hàng phục các ma oán

    Được Chánh giác vô thượng

    Nay ở chỗ Tiên nhân

    Chuyển bánh xe chánh pháp

    Phạm thiên cung kính thỉnh

    Giảng dạy pháp vô thượng

    Năng nhân yên lặng hứa

    Do thương xót tất cả

    Thề dựng lập kiên cố

    Lộc uyển Ba-la-nại

    Sẽ chuyển đại pháp luân

    Tối thượng không ai hơn

    Người muốn nghe chánh pháp

    Xưa ức lần chứa đức

    Mau chóng đến nơi kia

    Kịp thời nghe chánh pháp

    Thân người rất khó được

    Đời gặp Phật khó hơn

    Pháp quý, khó thể gặp

    Bỏ tám ác, các nạn

    Ngày nay chính là lúc

    Gặp Phật giảng, nghe tin

    Bỏ hết các hoạn nạn

    Nghe nhận pháp Phật dạy

    Ức lớp kiếp không nghe

    Mong được gặp ngay pháp

    Ngày nay sẽ được nghe

    Không buông lung biếng nhác.

    Phật bảo các Tỳ-kheo:

    -Địa thần thông báo: Thánh chỉ của Phật lập tòa cao để Ngài chuyển pháp luân. Đức Phật Đại Thánh từ kim khẩu tuyên bô": “Ta là Bậc Tối Tôn quý đệ nhất trong mười phương. Ở ngay dưới gốc cây Bồ-đề hàng phục binh ma, dứt sạch nguồn gốc khổ!”

    Bấy giờ Đức Năng Nhân Thế Tôn tịch lặng, phá tan nạn khổ, sở nguyện đầy đủ, không còn các sự trói buộc. Việc làm trong trăm kiếp muốn cứu độ chúng sinh. Việc chuyển pháp luân, không ai là không ưa thích. An trú trong ánh sáng, đủ sức oai thần, khuyến hóa vồ số trăm ngàn đệ tử chân chánh của các Đức Phật, trong ngàn ức cõi Phật, đã thi hành biết bao Phật sự ở chỗ các Đức Phật, hiển bày âm thanh của Như Lai rất là êm, công huân chân chánh. Ngài rất thương xót khuyên giúp, nhớ nghĩ mọi người.

    Thấy oai đức sáng chói của Ngài quan sát các phương tiện trong trăm ngàn kiếp, phát ra tiếng sâm vang rền, cũng là vì các chúng sinh; mưa nước tám vị, diệt các sở thọ: Căn, lực, giác ý, thiền tư, thoát môn, định ý, chánh thọ, tăng thêm tánh đạo. Từ vô số kiếp, như các pháp đã được nghe, tự thân lập hạnh chứa nhóm đạo pháp, phân biệt các thuốc, hiểu rõ nghiệp của chúng sinh, có người bị bệnh sẽ chữa trị cho lành, khiến cho không còn nghĩ nhớ đến trần lao trong nhiều đời.

    Phật là Pháp y độ thoát chúng sinh. Nhân chuyển pháp luân, Ngài độ thoát vô cùng. Nghe thần túc của Ngài từ vô số kiếp đến nay, đạo pháp vi diệu truyền khắp; tất cả đức hạnh là chứa thiện, bố thí pháp.

    Ngài hiểu rõ về y dược, hạnh nguyện đầy đủ. Tuy ở chỗ nghèo thiếu mà không có lòng ham thích, chạy theo của cải điên đảo. Chư Phật là các Bậc Đạo Sư thường chuyển pháp luân, không nghĩ đến của cải, vàng bạc, ưa nương nơi thanh tịnh. Hương hoa, hương tạp, hương bột, cung điện, vợ con, bản thân, không ưa thích, không cho là sung sướng; bỏ dục lạc ở cõi trời và nhân gian, chí hướng cầu Phật đạo, chuyển pháp luân, bố thí, cứu giúp chúng sinh, giữ gìn đầy đủ giới cấm. Trong trăm kiếp thường thực hành nhẫn nhục, tinh tấn, siêng năng tu tập, không có lòng khiếp nhược, không tăng, không giảm. Chí nơi thiền quán, đạt đến thần thông, phát huy trí tuệ, sở nguyện đầy đủ, chuyển pháp luân tiêu trừ nhiệt não, lập nên đạo pháp.

    Bấy giờ có Bồ-tát tên Phát Ý chuyển pháp luân khen ngợi pháp này, vượt hẳn các thứ quý báu ở đời. Trong tất cả các thứ báu, báu của đạo là trên hết. Đạo hết sức đẹp đẽ, rực rỡ trang nghiêm, thanh tịnh. Ngàn ánh sáng nơi đạo chiếu khắp thiên hạ, Bồ-tát tự đem lòng thành, hoa hương, tràng phan, trướng màu vàng ròng, nước thơm đầy bình thành kính chắp tay xin tắm rửa cho Bồ-tát để được tiêu sạch các sự cấu uế nơi tâm, tạo lập sự an lành.

    Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền chuyển pháp luân. Để khuyến khích hỗ trợ Ngài, Bồ-tát lại chắp tay cúng dường Thế Tôn và nói kệ khen:

    Đức Đăng Quang Như Lai

    Thọ ký Thánh thanh tịnh

    Sẽ được đạo ý Phật

    Nhân Trung Tôn sư tử

    Khi ấy Ngài lập nguyện

    Hành pháp là hình tượng

    Để khi được Phật đạo

    Sẽ khuyên giúp đạo pháp

    Vào vô số phẩm nghiệp

    Bởi thường do tất cả

    Nơi các loài chúng sinh

    Giúp mười phương đến nhóm

    Khuyên giúp các chủng tộc

    Tuyên bố chuyển pháp luân

    Chắp tay tự phụng sự

    Cúi đầu gieo mình lạy

    Ngài nơi cội Bồ-đề

    Thanh tịnh các Thiên nhân

    Nếu hành nghiệp thanh bạch

    Thờ cúng Đấng Năng Nhân

    Tất cả đều đứng yên

    Thỉnh thuyết đại pháp luân

    Đủ tất cả mọi người

    Khen đức không thể hết

    Ba ngàn cõi đại thiên

    Cùng khắp trong hư không

    Chư Thiên, A-tu-luân

    Thiên hạ đều cúi đầu

    Vượt âm thanh chư Thiên

    Chốc lát không ai tin

    Mọi người đều vui mừng

    Đều chiêm ngưỡng Như Lai

    Phạm thiên được tự tại

    Âm thanh như mưa, sấm

    Trăm ngàn vô số ức

    Đều cùng đến nhóm họp

    Trong vô số ức kiếp

    Hành đúng đạo chân chánh

    Khi Phật Thích-ca Văn

    Cùng Câu-luân đàm luận

    Khổ không, không có ngã

    Nói mắt kia vô thường

    Tai, mũi không bền lâu

    Tự nhiên bị mù mịt

    Đầu mặt cũng tự nhiên

    Các căn không thường tồn

    Do quan sát như vậy

    Không ngã, không thọ mạng

    Vì tất cả các pháp

    Đều từ nhân duyên sinh

    Nếu xa kìa kiến chấp

    Thấy đó như hư không

    Không thấy, không tạo tác

    Cũng không thấy chúng sinh

    Duyên sạch hoặc chẳng sạch

    Cũng không được xa lìa

    Năm ấm không hưng khởi

    Phát khởi rất khổ sở

    Khởi lên vực ân ái

    Hạnh theo kia tăng giảm

    Do luôn quán bình đẳng

    Được đạo nghĩa chân chánh

    Đưa đến dứt các pháp

    Hiểu rõ liền dứt được

    Khi sinh niệm tư tưởng

    Đừng thuận hành theo nó

    Thường tu hạnh minh trí

    Tuân hành đạo như vậy

    Ngay nơi nhân duyên hành

    Mà không tạo lập gì

    Tuy ở nơi thần thức

    Không hiệp cùng nhân duyên.

    Phẩm 24: CÂU-LÂN

    Phật bảo các Tỳ-kheo:

    -Bấy giờ Như Lai mở bày các pháp, nói rõ nguồn gốc sinh khởi của mười hai nhân duyên:

    Từ vô minh có hành, từ hành có thức, từ thức có danh sắc, từ danh sắc có lục nhập, từ lục nhập có cánh (xúc), từ cánh có thống (thọ), từ thống có ái, từ ái có thọ (thức), từ thọ có hữu, từ hữu có sinh, từ sinh có lão, bệnh, tử nhóm họp tạo thành một nỗi khổ lớn.

    Nếu vô minh diệt thời hành diệt, hành diệt thời thức diệt, thức diệt thời danh sắc diệt, danh sắc diệt thời lục nhập diệt, lục nhập diệt thời cánh diệt, cánh diệt thời thống diệt, thống diệt thời ái diệt, ái diệt thời thọ diệt, thọ diệt thời hữu diệt, hữu diệt thời sinh diệt, sinh diệt thời lão, bệnh, tử đều diệt, thời không còn có cái họa rất khổ về ngũ ấm. Theo duyên thời có, không duyên thời không.

    Đức Như Lai hiểu rõ nguồn gốc của sáu tình, mười hai nhân duyên này. Thế nên Ngài đạt đến các pháp tự nhiên không có nguồn : gốc một cách tự tại. Các phái ngoại đạo không biết được các pháp không, không do nhân duyên này. Các pháp đó vốn như vậy. Chư Phật trong quá khứ đã hiểu rõ, các Ngài vì chúng sinh phân biệt nói ra. Hiểu rõ được pháp này mới được vắng lặng; vì vậy cho nên các Ngài vì mở bày giảng dạy mười hai duyên khởi mà chuyển pháp luân. Câu-lân hiểu biết được pháp đó. Câu-lân có nghĩa là hiểu biết được gốc ngọn. Do diệt sạch hết, nên ngôi tam bảo được thành lập: Phật, Pháp, Thánh chúng là tên của ba ngôi báu. Âm thanh truyền bá khắp thiên hạ, vang đến trời Phạm thiên: “Đức Như Lai ngày hôm nay chuyển pháp luân thanh tịnh. Bậc Hộ Thế chí chân thành lập ngôi Tam bảo, người đời khó có thể đạt được”.

    Câu-lân..., năm thầy Tỳ-kheo và sáu mươi ức chư Thiên được pháp nhãn tịnh. Lại có tám mươi ức Thiên nhân sắc giới được pháp nhãn tịnh vô thượng chánh chân. Tám vạn người đời đến tham dự pháp hội cũng được pháp nhãn tịnh, vượt qua các khổ.

    Bấy giờ âm vang của Phật nghe thấu mười phương, Thiên thần trên hư không nghe âm thanh như hòa: “Thế Tôn Thập lực Thích-ca Văn, ở nơi chỗ các Tiên nhân trong vườn Lộc uyển vận chuyển bánh xe pháp, thuyết mười hai nhân duyên, dạy cho tất cả đều được biết hết”.

    Chư Phật trong mười phương nghe âm thanh đó đều lặng im. Chư Thiên, Long thần, A-tu-luân, thị giả của chư Phật đều bạch với Phật của mình: “Âm thanh đó phân biệt các pháp khắp nơi đây nghe. Lành thay! Thế Tôn! Xin mau cho biết rõ ý của Ngài, sao lại lặng im?”

    Trong đời trước lặng im tinh tấn dùng đạo lực này để học đạo, vượt vô số trăm ngàn Bồ-tát, tự đắc quả Phật. Nay Đấng Thập Lực này tinh tấn tu đắc quả Phật, Ngài chuyển ba lần hợp thành mười hai hành pháp. Ba lần chuyển hợp thành mười hai hành pháp luân này, không có tâm quá khứ, hiện tại, vị lai. Vì vậy cho nên tất cả khi nghe âm thanh đó, trăm ngàn ức người phát khởi tuệ lực, lập nên đạo lớn, đều tự nghĩ: Chúng ta nên học theo oai thần thế lực tinh tấn của Đức Phật kia, khiến mau đạt đến quả vị tôn quý trong ba đời, giúp cho đời con mắt đạo để khiến cho tất cả mau đạt đến đạo Vô thượng Chánh chân.

    Khi ấy có tám Thiên tử đồng đến nhóm họp. Đó là Thần Diệu, Thiên Diệu, Hoan Dư, Gia Hoan, Chiên-đàn, Đại Duyệt, Tịch Nhiên, Tịch Luật.

    Tám vị Thiên tử trời Tịnh cư đồng hạng như vậy, cùng ngàn Thiên tử đều đến nhóm họp, nghe Thế Tôn chuyển pháp luân. Khi ấy Đại Thánh bảo với Thiên tử đại thần diệu:

    -Nay kinh này gọi tên là “Phổ Diệu Đại Phương Đẳng Pháp”. Chư Bồ-tát ưa thích đi vào cảnh giới của chư Phật, ánh sáng chiếu khắp nơi thân, tinh tấn tự đạt đến quả Phật.

    Đức Như Lai đã thuyết ra cho nên chúng ta thọ trì, đọc tụng, vâng hành và nói lại cho mọi người.

    HẾT QUYỂN 7

       

    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    Giáo Pháp nào có Tâm Bồ Đề là giáo pháp chân chính của Phật Thích Ca Mâu Ni.

  2. #8
    Thành viên vinh dự 123456789 đã tắt Mức độ Uy tín 123456789's Avatar
    Ngày tham gia
    Jun 2009
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    428
    Credits
    809,542
    14
    Advanced
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần
    Thanks
    103
    Thanked 61 Times in 55 Posts
    Rep Power
    9

    Mặc định





















    PHẬT NÓI KINH PHỔ DIỆU

    Hán dịch: Đời Tây Tấn, Pháp sư Trúc Pháp Hộ, người nước Nguyệt chỉ
    Việt dịch: Linh-Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

    -o0o-

    QUYỂN VIII

    Phẩm 25: MƯỜI TÁM PHÉP QUYỀN BIẾN


    Phật bảo các Tỳ-kheo:

    -Như Lai khi ấy chuyển pháp luân giáo hóa nhóm năm người; Câu-lân kia xong, lại nghĩ: “Gần đây còn có nhóm ông Ưu-vi Ca-diếp rất có tiếng tăm, nhà vua, dân chúng rất tôn sùng, ông có năm trăm đệ tử. Ta nay trước hết muốn đến đó giáo hóa khiến cho thầy trò ông hiểu được đạo pháp, rồi sau đó lần lượt nhiếp phục”. ]

    Nghĩ như vậy xong, Đức Thế Tôn liền đi đến chỗ của thầy trò Ca-diếp. Ca-diếp thấy Đức Phật đi đến, đứng dậy đón rước và chào hỏi:

    -Thật quý hóa thay được Đại Đạo Nhân đến thăm, Ngài có được khỏe không?

    Đức Phật trả lời:

    Không bệnh rất lợi

    Biết đủ rất giàu

    Có lòng rất thân

    Vô vi rất an.

    Ca-diếp thưa:

    -Chẳng hay Đại Đạo Nhân có gì dạy bảo?

    Phật đáp:

    -Tôi muốn thưa một điều, xin Ngài đừng giận, cảm phiền cho tôi được nghỉ tạm qua đêm nơi đền thờ lửa của Ngài.

    Ca-diếp thưa:

    -Thưa Ngài, không thể được, vì đền thờ lửa hiện đang có một con Độc long ở trong đó, sợ nó sẽ làm hại Ngài.

    Phật bảo:

    -Không lo. Độc long không hại Ta.

    Và Phật lại hỏi mượn đến lần thứ ba, Ca-diếp mới bằng lòng.

    Phật liền tắm rửa rồi đi vào đền thờ lửa. Ngài lấy nệm trải trên đất, vừa ngồi được giây lát, rồng liền nổi giận, từ trong thân tuôn ra khói, Phật cũng tuôn ra khói. Rồng càng giận dữ, toàn thân tuôn ra lửa. Phật cũng hiện thần thông, toàn thân tuôn ra lửa sáng rực. Lửa của rồng và lửa của Phật khi ấy đều rất mạnh nên thạch thất bị cháy rụi. Khói lửa tuôn ra như hiện tượng hỏa hoạn.

    Ca-diếp ban đêm dậy xem các tinh tú, thấy đền thờ lửa bị cháy rụi, than:

    Đáng tiếc thay! Vị đại Sa-môn này đoan chánh, bởi không tin lời ta nên bị lửa làm hại!

    Phật biết tâm ý Ca-diếp nhưng khi đó Ngài đang dùng đạo lực hàng phục rồng. Rồng hết khí lực, liền tự quy phục:

    Phật bảo rồng:

    -Ý ngươi muốn quy phục thì phải tự chui vào trong bình bát của Ta.

    Rồng liền chui vào trong bình bát của Phật, Phật để nguyên trong bát.

    Ca-diếp thấy lửa cháy rất sợ hãi, bảo năm trăm đệ tử mỗi người đem một bình nước đến để diệt lửa nhưng mỗi người đem đến một bình đầy nước lại trở thành một bình đầy lửa. Thầy trò càng sợ hãi, đồng nói:

    -Than ôi! Độc long đã giết hại vị Sa-môn này mất rồi!

    Sáng hôm sau, Đức Phật đem bình bát có đựng con Độc long từ đền thờ lửa đi ra. Ca-diếp thấy Phật rất vui mừng thưa:

    -Đại Đạo Nhân còn sống đó ư? Vật gì ở trong bình bát của Ngài vậy?

    Phật đáp:

    -Thạch thất bị đốt cháy, nhưng Ta được an ổn. Độc long ở trong bình bát này, có thể chứng minh Độc long bị hại. Nay Ta đã hàng phục Độc long và Độc long đã thọ giới.

    Ca-diếp cho mình đã đắc đạo, còn Phật chưa đắc đạo nên quay lại nói với các đệ tử:

    -Vị Đại Sa-môn này tuy có thần thông nhưng không bằng ta. Ta đã đắc đạo quả A-la-hán.

    Phật lại dời đến gần chỗ của Ca-diếp và ngồi dưới một gốc cây. Ban đêm, Tứ Thiên vương đến dưới gốc cây nghe kinh, ánh sáng của Tứ Thiên vương sáng như lửa lớn. Ca-diếp ban đêm dậy xem khí hậu, thấy lửa, sáng ngày đi đến chỗ Phật, hỏi:

    -Ngài cũng thờ lửa ư?

    Phật đáp:

    -Không, đêm qua Tứ Thiên vương tự xuống nghe kinh, ánh sáng đó là của họ đấy.

    Đức Phật ngồi dưới gốc cây. Khi ấy Thiên đế Thích lại đến nghe kinh, ánh sáng cửa Thiên đế Thích rực rỡ hơn ánh sáng trước. Ca-diếp xem khí hậu thấy ánh sáng rất lớn đó trong lòng nghĩ: “Sa-môn tiếp tục công việc thờ lửa”. Sáng ngày hỏi Phật:

    -Ngài có thể bảo là Ngài không thờ lửa được ư?

    Đức Phật đáp:

    -Không! Đêm qua Thiên đế Thích xuống nghe kinh, ánh sáng đó là của họ đấy.

    Qua đêm sau, Phạm thiên lại xưống nghe kinh. Ánh sáng của Phạm thiên lại sáng gấp bội ánh sáng của Đế Thích. Ca-diếp ban đêm dậy xem khí hậu, thấy ánh sáng rực rỡ, sáng ngày đến hỏi Phật.

    -Theo tôi nghĩ, Ngài cũng thờ lửa vậy.

    Đức Phật đáp:

    -Không. Đêm qua Phạm thiên xuống nghe kinh. Đó là ánh sáng của ông ta.

    Năm trăm người đệ tử của Ca-diếp thờ ba thứ lửa, nhân lên thành một ngàn năm trăm ngọn lửa. Sáng ngày họ nhen lửa, lửa tuyệt nhiên không cháy, rất lấy làm lạ, đi đến hỏi thầy. Thầy nói: “Đây là do vị Sa-môn làm ra như vậy”. Họ liền cùng nhau đi đến hỏi Phật:

    -Chúng tôi thờ lửa, nay đốt lửa sao không cháy?

    Đức Phật dạy:

    -Muốn cho lửa cháy ư?

    Thưa:

    -Xin cho lửa cháy.

    Đức Phật dạy:

    -Hãy đốt lên, lửa sẽ cháy ngay.

    Sau khi đốt lửa cháy rồi, Ca-diếp muốn tắt lại, không thể tắtđược. Năm trăm người đệ tử cùng giúp thầy để tắt, nhưng lửa cũng không tắt. Họ nghĩ: “Đây lại là do vị Sa-môn”, liền cùng nhau đi đến hỏi Phật:

    -Chúng tôi đốt lửa đã cháy rồi, nay muốn tắt lại không tắt được.

    Đức Phật dạy:

    -Muốn khiến cho tắt không?

    Đồng thưa:

    -Muốn tắt.

    Đức Phật dạy:

    -Hãy tắt đi! Lửa sẽ tắt ngay.

    Ca-diếp bạch Phật:

    -Xin thỉnh Ngài ở lại nơi đây, đừng đi xa. Chúng tôi sẽ dâng cúng thức ăn cho Ngài.

    Thưa xong, Ca-diếp liền trở về bảo với người nhà sắm sửa một bữa cơm thịnh soạn và khi đến giờ, ông đến thỉnh Phật.

    Phật dạy:

    -Hãy về trước. Ta sẽ đến sau.

    Ca-diếp vừa đi, Phật liền dùng Thần túc thông bay lên trời Đao-lợi lấy quả Trú độ; dùng thần túc bay đến phương Đông tới thế giới Phất-vu-đãi cách xa vài ngàn vạn dặm lấy quả Diêm-bức; bay đến phương Nam tới cõi Diêm-phù-đề lấy quả Ha-lê-lặc; bay đến phương Tây tới cõi Câu-da-ni lấy quả A-ma-lặc; bay đến phương Bắc đến cõi uất-đơn-việt lấy gạo thơm tự nhiên, mỗi thứ đựng đầy bình bát rồi trở về ngồi nơi chỗ của mình trước khi các Ca-diếp về đến.

    Ca-diếp hỏi:

    -Ngài từ con đường nào để đi đến đây?

    Phật đáp:

    -Sau khi ông trở về, Ta đến bốn cõi và lên trời Đao-lợi lấy trái cây và gạo thơm ngon này. Ông có thể dùng những thứ ấy.

    Sáng ngày hôm sau Phật đến nhà Ca-diếp nhận thức ăn trở về, ở chỗ thanh vắng thọ trai xong, Ngài nghĩ muốn tắm giặt. Đế Thích biết được ý Phật, liền đi xuống chỉ tay xuống đất, nước liền tuôn ra thành ao để cho Phật dùng tắm giặt.

    Ca-diếp chiều tối đi dạo quanh trong thôn thấy ao nước rất lấy làm lạ, không hiểu do duyên cớ gì có việc này, hỏi Phật. Phật dạy:

    -Sáng nay sau khi ta thọ trai xong, ta muốn tắm giặt, Đế Thích biết ý đưa tay chỉ đất, khiến tuôn ra nước này. Ông nên gọi đây là “ao Chỉ địa”. ,

    Phật trở lại dưới gốc cây, trên đường đi, thấy có một chiếc áo rách vứt bỏ, Ngài muốn lượm đem đi giặt, Đế Thích biết ý bèn lên trên núi Phả-na lấy đá đẹp vuông vức bằng phẳng, dâng lên để Phật giặt y, Phật muốn phơi y, Đế Thích lại đi lấy đá sáu cạnh đến dâng cho Phật dùng để phơi y.

    Ca-diếp thấy bên bờ ao có hai loại đá đẹp, hỏi Phật:

    -Do đâu Ngài có được đá này?

    Phật dạy:

    -Ta muốn giặt y, và phơi y, Đế Thích biết ý nên đem dâng lên cho Ta dùng. Nguyên do là như vậy.

    Sau khi Phật vào ao Chỉ địa tắm giặt xong, muốn lên, nhưng không có chỗ để vịn, cây Ca hòa trên bờ ao tự nhiên sà nhánh xuống đến chỗ Phật, Phật vịn cây bước lên.

    Ca-diếp thấy cây sà nhánh xuống rất lấy làm lạ hỏi Phật, Phật dạy:

    -Ta vào trong ao tắm giặt, khi lên không có chỗ để vịn lên, do đó Thần cây vì Ta sà nhánh xuống.

    Bấy giờ vua nước Ma-kiệt-đà cùng với quần thần và dân chúng nhân mùa tiết hội, đem lễ vật đến, ban tặng cho Ca-diếp và cùng nhau vui chơi bảy ngày, Ca-diếp nghĩ: “Phật là Bậc Thánh siêu việt hơn ta, mọi người gặp Ngài ắt sẽ bỏ ta, cùng nhau theo phụng thờ Ngài hết. Giá như hôm nay không có sự hiện diện của Ngài thì sung sướng biết bao!”

    Phật biết tâm niệm của Ca-diếp nên liền ẩn mất. Khi mọi người đã trở về hết, Ca-diếp lại nghĩ: “Ta gặp tiết hội, thức ăn dẫy đầy, giá có Đại Sa-môn cùng thọ hưởng thì vui biết bao!”.

    Phật biết, liền hiện ngay trước mặt Ca-diếp. Ca-diếp vừa kinh sợ vừa vui mừng, thưa:

    -Ngài đến sao đúng lúc, thật sung sướng. Vừa rồi Ngài đi đâu vắng mặt?

    Đức Phật đáp:

    -Do ý nghĩ của ông.

    -Sao lại bảo là do ý nghĩ của tôi? Ca-diếp hỏi.

    Đức Phật dạy:

    -Trước đó ông nghĩ là vị Đại Sa-môn này đạo đức cao vời, thân tướng tốt đẹp như sắc vàng ròng, vạn dân nếu thấy Ngài ắt sẽ bỏ Ta mà cùng theo thờ phụng Ngài hết. Do đó nên ta ẩn đi; nay ông lại nghĩ đến Ta, cho nên Ta lại đến.

    Khi ấy năm trăm người đệ tử của Ca-diếp cùng nhau bửa củi, mỗi người đều cầm búa đưa lên và không hạ xuống được, đi đến bạch với thầy, thầy dạy:

    -Lại do vị Đại Sa-môn này làm ra như vậy.

    Liền cùng nhau đi đến hỏi Phật:

    -Các đệ tử của tôi đang cùng bửa củi, cùng đưa búa lên nhưng không hạ xuống được.

    Đức Phật dạy:

    -Hãy hạ xuống.

    Ứng theo tiếng, búa liền hạ. Sau khi hạ xuống, búa lại dính vào củi không thể đưa lên được, lại đến hỏi Phật, Phật dạy:

    -Có thể đi, tự nó sẽ đưa lên. Liền đưa lên được.

    Bấy giờ nước sông Ni-liên-thiền dâng tràn đầy và chảy cuồn cuộn. Phật dùng thần thông cắt dứt dòng nước khiến cho không chảy, làm cho nước dâng tràn lên cao khỏi đầu người và khiến cho đất dưới đáy sông bày ra và Phật đi kinh hành trong đó.

    Ca-diếp thấy vậy, sợ Phật bị nước cuốn trôi liền cùng với các đệ tử chèo thuyền tìm kiếm Phật. Thấy nước cắt ngăn đôi, ở giữa bày đất và Phật đi kinh hành trong đó Ca-diếp kêu lớn:

    -Đại Đạo Nhân còn sống đó ư?

    Đức Phật đáp:

    -Còn sống.

    Ca-diếp lại hỏi:

    -Phật có muốn lên thuyền không ?

    Đức Phật dạy:

    -Rất tốt!

    Phật nghĩ: “Hôm nay Ta phải hiển bày đạo lực, khiến cho tâm của ông này phải phục”. Ngài liền từ trong nước xuyên qua đáy thuyền, vào trong thuyền mà không làm cho thuyền có dấu vết lủng lỗ.

    Như vậy, Ngài biến hóa tất cả mười tám cách. Ca-diếp lại nghĩ: “Vị Sa-môn này có Thần túc thông, nhưng không bằng ta, ta đã đắc A- la-hán”.

    Phật bảo Ca-diếp:

    -Ông không phải A-la-hán, không biết chứng đạo, mặt mày gượng gạo không biết xấu hổ. Tự cho mình có đạo đức một cách luống dối.

    Khi ấy Ca-diếp trong lòng sợ hãi, sởn tóc gáy, xấu hổ mặt biến sắc, tự biết mình không chứng đạo, liền cúi đầu lạy thưa:

    -Nay Đại Đạo Nhân quả thật là Bậc Thánh nhiệm mầu mới biết được tâm ý của con. Con nguyện được xin theo Đại Đạo Nhân lãnh thọ giới kinh làm vị Sa-môn.

    Phật dạy:

    -Ông hãy trở về bảo với các đệ tử để cùng đồng được lợi ích. Ông là bậc kỳ cựu trong nước, mọi người đều tôn kính. Nay muốn học đạo, há lại chỉ riêng một mình mình biết thôi ư?

    Ca-diếp vâng lời Phật dạy, báo với tất cả các đệ tử:

    -Các con biết không, thầy được tận mắt thấy, lòng mới tin hiểu. Thầy sẽ cạo bỏ râu tóc, khoác pháp y, nhận lãnh giới cấm của Phật để làm Sa-môn, ý của các con muốn thế nào?

    Các đệ tử đồng bạch:

    -Sự hiểu biết của chúng con phần lớn là nhờ ân thầy. Nay thầy có chỗ kính tin thì chắc chắn là không hư dối. Chúng con xin cùng đi theo thầy để làm Sa-môn.

    Khi ấy thầy trò đều cởi áo lông cừu, bình đựng nước cúng, giày da cùng với các dụng cụ thờ lửa đem vứt hết xuống dòng sông, rồi tất cả cùng đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, thưa:

    -Kính bạch Đức Thế Tôn, nay con cùng năm trăm đệ tử của con đều có lòng tin, nguyện lìa bỏ gia đình, cạo râu tóc làm Sa-môn.

    Phật dạy:

    -Lành thay, các Sa-môn hãy đến đây!

    Ca-diếp cùng năm trăm người đệ tử râu tóc liền tự rụng và đều trở thành Sa-môn.

    Ưu-vi Ca-diếp có hai người em: Người em kế tên là Na-đề, người em út tên là Kiệt-di. Hai người này mỗi người đều có hai trăm năm mươi người đệ tử. Thảo am của họ được dựng ở bên bờ sông. Khi trông thấy y phục cùng hằng trăm dụng cụ thờ lửa của các Phạm chí trôi trên dòng sông, hai người em vô cùng kinh hãi, sợ anh mình cùng năm trămđệ tử bị kẻ ác làm hại thả trôi sông nên liền cùng với năm trăm đệ tử đi ngược theo dòng sông. Đến nơi thấy thầy trò anh mình đều thành Sa-môn, họ rất lấy làm lạ, hỏi đại huynh:

    -Đại huynh năm nay đã một trăm hai chục tuổi, trí tuệ cao xa, quốc vương quần thần dân chúng đều tôn kính thờ phụng, ý của chúng em nghĩ rằng đại huynh đã là bậc A-la-hán, nay đại huynh lại bỏ sự nghiệp Phạm chí theo học pháp Sa-môn. Phật đạo đâu phải lớn hơn đạo của đại huynh?

    Ca-diếp bảo:

    -Phật đạo tối tôn, pháp đó vô lượng. Anh tuy được người đời tôn kính nhưng thực sự chưa đắc đạo và chưa được thần thông trí tuệ như Phật. Pháp của Ngài rất thanh tịnh. Anh thấy Ngài có từ tâm, cứu độ người nhiều vô cùng Ngài đem ba việc này để dạy bảo:

    1. Đạo định thần túc biến hóa tự nhiên.

    2.Trí tuệ hiểu biết bổn ý của người.

    3. Đúng theo bệnh cho thuốc.

    Hai người em nghe xong, quay lui nói với các đệ tử:

    -Các con muốn thế nào?

    Năm trăm người cùng đồng thanh thưa:

    -Chúng con nguyện được như đại sư.

    Liền cùng cúi đầu đảnh lễ Phật, cầu xin được làm Sa-môn. Phật dạy:

    -Đến đây Tỳ-kheo!

    Hai anh em và năm trăm người đệ tử râu tóc tự rụng, thân khoác ca-sa, liền thành Sa-môn đi theo sau Phật. Khi ấy Phật có một ngàn Sa-môn cùng đi đến nước Ba-la-nại, ngồi dưới rừng cây Di huyền.

    Các đệ tử của Phật đều vốn là Phạm chí, Phật vì các đệ tử hiển bày thần thông biến hóa.

    1. Bay đi.

    2. Giảng kinh.

    3. Giáo giới.

    Các đệ tử thấy oai thần biến hóa của Phật, không ai là không hoan hỷ, đều chứng quả A-la-hán.

    Phẩm 26: PHẬT ĐẾN NƯỚC MA-KIỆT-ĐÀ

    Bấy giờ Đức Thế Tôn ở tại Ba-la-nại, sau khi thuyết pháp xong, cùng với ba anh em ưu-vi Ca-diếp và một ngàn vị La-hán, là các vị xưa kia đều thuộc đạo bện tóc, đã đạt được thần thông, sinh tử đã dứt, ra khỏi ba cõi, muốn đi đến nước Ma-kiệt-đà truyền dạy đạo pháp, mở bày dắt dẫn cho những người ngu tối.

    Khi ấy, vua Bình-sa của nước Ma-kiệt-đà được nghe Thái tử con vua dòng họ Thích, thân có tướng đặc biệt, với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, thân cao một trượng sáu, màu vàng ròng, bỏ nước, bỏ ngôi vua, làm Sa-môn, đạt được quả Phật, hiệu là: Như Lai, Chí Chân Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu, giảng dạy đạo nghĩa, đầu, giữa, cuối đều thiện. Pháp giảng dạy đầy đủ, đạt đến nghĩa lý nhiệm mầu, tịnh tu phạm hạnh, giữ gìn giới cấm đầy đủ, thành tựu thiền định, trí tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Thành tựu ngũ nhãn: Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn, Pháp nhãn, Phật nhãn, sáu thông, ba đạt. Chư Thiên, Thích, Phạm đều phụng sự. Tất cả đều được nhờ ân cứu độ.

    Vua Bình-sa được nghe như thế, vui mừng hớn hở, nghĩ: “Vốn ta cũng có lòng cầu xin được Phật cứu độ”, liền sắc các đại thần, trưởng giả, Phạm chí, cùng dân chúng trong nước sửa sang đường sá, rải hoa, đốt hương, cầm các cờ lọng; vua cỡi xe quý, đại thần bách quan trước sau theo hộ vệ, bằng ngàn xe, vạn mã. Các trưởng giả, Phạm chí có tất cả là một vạn hai ngàn người, muốn ra cửa thành để nghinh đón Phật. Bỗng một luồng gió mạnh thổi ập đến, đóng bít cửa thành. Vua rất lấy làm lạ, không hiểu vì sao: “Nay đi nghinh đón Phật, đáng lẽ ứng hiện điềm tốt lành an vui mới phải”.

    Vị thần giữ cửa thành liền tâu vua:

    -Thật vui mừng, mọi việc đều tốt đẹp. Trong đời trước, vua cùng với tám vạn bốn ngàn vua, cùng sửa chùa, dựng tháp và thệ nguyện trong đời sau đồng thời được gặp Phật, thưa hỏi và nhận lãnh giáo pháp. Nay có một tù nhân bị hình phạt nhốt trong ngục, trái với lời xưa của vua, cho nên cửa thành đóng bít. Ngài nên đại xá, phóng thích cho người đang bị nhốt trong ngục kia ra để đồng cùng một lúc được gặp Phật, thưa hỏi và nhận lãnh lời giáo hóa thì cửa thành mới mở.

    Vua nghe rồi, liền ra lệnh cho các nơi thả tù nhân trong nước ra dể cùng đi nghênh đón Phật.

    Bấy giờ Phật vào nước Ma-kiệt-đà, ở đó có một cây đại thọ tên là Giá-việt. Đức Phật cùng các thầy Tỳ-kheo đồng ngồi dưới cây. Vua từ xa thấy Phật cùng với chúng Tỳ-kheo như mặt trăng giữa các vì sao, giống như vầng thái dương vừa mới xuất hiện, khắp thiên hạ đều bừng sáng, không một nơi nào là không được chiếu soi. Cũng như Đế Thích, Phạm vương, Thánh đế đang ngự nơi cung điện của mình. Như cây hoa tươi tốt, như ngọn núi vàng, oai thần đặc biệt, sáng chói rực rỡ, siêu tuyệt vô song, trong lòng vua vô cùng phấn khởi. Vua xuống xe, cởi bỏ tất cả những vật trang nghiêm: lọng, giày, quạt, mũ, khăn cùng đao trượng và đi bộ đến trước Phật, cúi đầu lạy sát chân Phật và tự giới thiệu mình:

    -Con là vua Bình-sa, từ lâu luôn nghĩ nhớ đến Thánh Tôn, khát khao mộng có ngày được gặp lại.

    Vua lặp lại ba lần như vậy. Phật bảo vua:

    Đúng vậy, ông là vua Bình-sa. Chư Phật và Thiên thần đều ủng hộ vua.

    Vua thưa:

    -Con kính mong nhờ ân Phật cứu giúp.

    Thưa xong, vua lui ngồi một bên. Quần thần bách quan cúi đầu làm lễ rồi cũng lui ngồi một bên. Người đến trước thì sụp lạy, người đứng giữa thì cúi đầu, người đứng sau thì chỉ chắp tay. Và tất cả sau khi đã an tọa, vua cùng đại thần trông thấy Ưu-vi Ca-diếp là một bậc kỳ cựu lâu nay từng tu học theo đạo Tiên ở trên núi, nay sao lại ngồi một bên Phật, nên rất lấy làm lạ, trong tâm tự nghĩ: “Phật là thầy của ưu-vi Ca-diếp hay ưu-vi Ca-diếp là thầy của Phật?”

    Phật đọc được tâm niệm đó, Ngài liền dùng kệ hỏi Ưu-vi Ca-Diếp.

    Thế nào, thầy ưu-vi?

    Việc thờ thần xưa kia

    Theo cúng tế lửa nước

    Nhật, nguyệt, các Phạm thiên

    Đến nay như thế nào

    Ngày đêm siêng năng học

    Trong tâm không biếng nhác

    Đâu chẳng đến Thần tiên?

    Ca-diếp dùng kệ bạch Phật:

    Con nhớ xưa cúng tế

    Trải qua tám mươi năm

    Thờ thần gió, lửa, nước

    Nhật, nguyệt, các núi sông

    Ngày đêm không luống bỏ

    Trong tâm không xao lãng

    Cuối cùng chẳng được gì

    Gặp Phật mới an ổn.

    Vua, quần thần và vạn dân trong nước nhờ vậy mới phân biệt, biết rõ ưu-vi Ca-diếp là đệ tử của Phật. Phật bảo ưu-vi Ca-diếp:

    -Ông hãy đứng dậy.

    Ưu-vi Ca-diếp liền đứng dậy, quỳ thẳng chắp tay trước Phật. Phật dạy:

    -Hiện nay nếu ông là A-la-hán, hãy biểu hiện có thần thông.

    Ca-điếp liền vâng lời Phật dạy bay lên hư không, trên thân tuôn ra lửa, dưới thân tuôn ra nước, mưa trở lại nơi thân nhưng thân không thấm ướt. Dưới thân tuôn ra lửa, lửa không làm hại thân. Bay đi trên hư không giống như chim bay, bảy lần hiện, bảy lần ẩn mất. Đi trên nước như đi trên đất, không bị ngăn ngại bởi vách tường, núi Tu-di và đất, tất cả đều thông suốt như đi vào trong nước. Từ phương Đông đến ở trước Phật lại ẩn mất, bỗng hiện ra ở phương Tây. Từ phương Tây đến ở trước Phật, lại ẩn mất, bỗng hiện ra ở phương Nam. Từ phương Nam ẩn mất, rồi hiện ra ở phương Bắc. Từ phương Bắc lại ẩn mất và hiện trở lại ở phương Nam. Biến hóa như vậy xong, lại trở về ở trước Phật, quỳ thẳng chắp tay bạch Phật:

    -Con là đệ tử của Phật. Phật là Thầy của con.

    Vua và đại thần nhân đó biết rõ hơn ưu-vi Ca-diếp là đệ tử của Phật. Phật bảo với quốc vương:

    Thiên hạ đều có mắt nhưng chưa chắc đã thấy được sắc. Quán sắc vô thường, thọ tưởng, hành, thức cũng đều vô thường. Nghĩa vô thường là khổ, không, vô ngã, là chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã (bỉ). Chưa thấy có người nào ưa đạo như háo sắc. Người sáng suốt hiểu rõ điều này. Sắc giống như đống bọt, thọ như bọt nước, tưởng như cây chuối, hành cũng như mộng, thức giống như huyễn. Tam giới như là ảo hóa, tất cả đều vô thường, không thể giữ lâu.

    Phật hỏi nhà vua:

    -Từ khi thành lập vương triều đến nay đã bao nhiêu năm?

    Vua đáp:

    -Hơn bảy trăm năm.

    -Đã có bao nhiêu triều vua?

    -Đã có trên hai mươi triều vua.

    Phật lại hỏi:

    -Ngài có biết tất cả các triều vua đã qua không?

    -Con không biết. Con chỉ biết có triều đại của phụ vương con thôi.

    Phật dạy:

    -Hiện tại, đất là vật trường tồn. Người và vật tất cả đều trở về vô thường. Trời đất tuy nói là thường nhưng cũng không có thể lâu dài. Ba cõi không có chỗ cậy nhờ, chỉ có đạo mới là nơi nương tựa, cắt đứt cái họa ngay trong lúc chưa xảy ra, vun trồng cái phước ngay từ khi chưa nhen nhúm. Diệt sạch cái hoạn nạn của năm ấm, như dập ngọn đuốc. Chứa đức cho ngày một tăng thêm như trăng đầu tháng.

    Phật dạy:

    -Vua cũng như người mẹ mang con trong thai, tướng mạo và phước lộc của mỗi đứa con đều khác nhau, hoặc giàu sang phú quý, hay bần cùng hạ tiện; hoặc thông minh trí tuệ, hay ngu tối, câm ngọng, điếc đui, Cha mẹ nào có thể biết được. Sinh con sau khi lớn lên mới phân biệt được họa phước. Đó không phải là lỗi của cha mẹ, mà đó là do vạ của người kia đời trước đã tạo ra lành hay dữ! Thân làm việc ác, miệng nói lời hung dữ, tâm nghĩ điều ác độc, chê bai Hiền thánh thì khi thân hoại mạng chung đọa làm quỷ thần trong địa ngục ác. Thân, miệng, tâm lành, không phạm mười điều ác, tu hành mười thiện đức, sau khi mạng chung sẽ được sinh lên cõi trời, được ở trước chư Phật trong mười phương. Nếu sinh ở chốn nhân gian thì được giàu sang, sung sướng, tuổi thọ dài lâu.

    Đức Phật dạy:

    -Tuy có lời nói về họa phước như thế, nhưng chưa hẳn đã hoàn toàn. Vì sao? Vì tất cả đều từ nơi duyên mà khởi. Duyên hiệp thì sinh, duyên tan thì diệt. Từ vô minh duyên thì có hành, từ hành duyên thì có thức, từ thức duyên thì có danh sắc, từ danh sắc duyên thì có lục nhập, từ lục nhập duyên thì có xúc, từ xúc duyên thì có thọ, từ thọ duyên thì có ái, từ ái duyên thì có thủ, từ thủ duyên thì có hữu, từ hữu duyên thì có sinh, từ sinh duyên thì có ưu bi, khổ não một tập hợp khổ lớn. Trừ các độc hoạn lớn: Vô minh, hành thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão, bệnh, tử, sầu ưu khổ não, thì được các tội, và diệt độc hoạn tự tiêu diệt, thì mới đạt đến sự nghiệp vô vi vô cùng.

    Ba cõi không có thần. Cội gốc là mười hai duyên khởi, thản nhiên không dấu vết, giống như hư không, không tâm ý thức, không chỗ dựng lập, cùng với đạo lớn đồng nhau, vốn không có sự phân biệt nên mau đạt được pháp nhẫn. Một mình cất bước, độ thoát khắp mười phương, tất cả chúng sinh đều nhờ ân.

    Khi Phật thuyết kinh này, trong tám vạn bốn ngàn chư Thiên, người đời, có một vạn hai ngàn người xa trần lìa cấu, sinh các pháp nhãn tịnh, vô số người phát ý đạo Vô thượng Chánh chân.

    Lúc này vua Bình-sa được pháp nhãn tịnh, trong lòng rất vui mừng, đến trước xin Phật được lãnh thọ năm giới. Các đại thần bách quan, quốc dân đều đến trước xin quy y, cũng lãnh thọ năm giới. Khi thọ năm giới xong, người, ngựa, xe cộ, thảy đều yên lặng, không phát ra một tiếng động. Vua đến trước bạch Phật:

    -Con bận nhiều việc nước, con xin trở về. Con sẽ trở lại hầu thăm Đức Thế Tôn.

    Đức Phật dạy:

    -Lành thay! Nhọc lòng đại vương cùng quần thần nhân dân.

    Vua cúi đầu đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng, lạy trở lại lần nữa rồi lui. Quần thần bách quan, nhân dân cũng tiếp nối nhau đảnh lễ Phật rồi lui. Đại thần đến trước vua chúc tụng:

    -Ngay giờ này các vua đều không thấy Phật, chỉ riêng một mình đức vua được thấy. Đó là do nhờ phước lộc sâu dày ở đời trước nên mới được như vậy.

    Vua càng phấn khởi, cũng chúc tụng lại chư thần:

    -Các khanh đã sẵn có phước đức nên mới gặp Thế Tôn. Vua trở về cung, sắc cho tất cả mọi người trong cung từ phu nhân đến các thể nữ lớn nhỏ và nhân dân trong nước: Trong một năm phải có ba tháng trường trai, một tháng phải có sáu ngày trai, giữ gìn giới cấm, tu hạnh bố thí, trì giới, học rộng nghe nhiều.

    Vua trở về cung, khi ấy Thiên đế Thích đem tám vạn Thiên nhân dâng hoa lên Phật, quy y, làm lễ rồi lui. Họ đồng niệm: “Nam-mô Phật”, liền được độ thoát, đắc pháp nhãn tịnh.

    Bấy giờ trong nước Ma-kiệt-đà có một trưởng giả tên là Ca-lăng, thấy Phật đến nước Ma-kiệt-đà, trời người đều thờ kính, nhưng chưa có tinh xá, ông nghĩ: “Ta có khu vườn trúc rất đẹp, muốn dâng cúng Phật”. Ông liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu lạy sát chân Phật, rồi tới trước bạch: -Phật thương xót khắp tất cả, xem như ái tử, bỏ ngôi vị Chuyển luân thánh vương, không ưa thích sự giàu sang phú quý ở đời, nay không có tinh xá. Con có một khu vườn trúc, cách thành không xa. Con xin dâng cúng Phật, có thể để làm tinh xá.

    Phật nhận và chú nguyện.

    Phật và Thánh chúng đến ở trong khu vườn đó nên gọi là vườn Trúc Ca-lăng.

    Phẩm 27: GIÁO HÓA XÁ-LỢI-PHẤT và MỤC-KIỀN-LIÊN

    Khi Phật chưa vào nước Ma-kiệt, dân chúng nơi đó giàu có sung túc, ăn uống đầy đủ với thức ngon bổ, đêm ngày trổi nhạc hát xướng, thường vui chơi không hề ngừng nghỉ. Đến lúc Phật vào nước Ma-kiệt, trong thành La-duyệt-kỳ ngày đêm yên tịnh, mọi người khen ngợi sự cứu độ, đọc kinh, giữ gìn trai giới, bỏ những thú vui thế tục như bỏ phân nhơ. Chỉ có Phật là tôn quý. Tất cả đều nghe kinh, thực hành theo chánh pháp, không bỏ Tam bảo.

    Phật có một đệ tử Sa-môn tên là An Bệ, được gởi đi truyền bá giáo pháp, mở bày chỉ dạy cho những người chưa được nghe. Tâm con người ở trong đời ác năm trược mê mờ, không đạt được chỗ chí chân.

    Sa-môn An Bệ vào thành khất thực, y phục trang nghiêm tề chỉnh, oai nghi đỉnh đạc, không mất thường pháp, bước đi đoan lạc, nhân đó khiến người trông thấy đều vui thích.

    Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất vốn tên thật là Ưu-ba-thế, nhân được gặp An Bệ, trong lòng rất vui mừng, tự nghĩ: “Ta học đạo đến nay đã lâu, nhưng chưa thấy có Sa-môn như thế. Y phục tề chỉnh, oai nghi an tường đỉnh đạc, không mất lễ tiết. Ta thử đến hỏi xem vị ấy đang phụng thờ đạo nào. Ta thường có ý nghi ngờ những điều được nghe khác nhau. Đạo giáo đặc thù mầu nhiệm chưa chắc đã bằng đây. Ta nên đến hỏi Tỳ-kheo xem hiện đang tu học theo giáo pháp nào và vị thầy truyền dạy là ai? Xin được nghe tôn chỉ của Tôn giả”. Tỳ-kheo biết ý liền thuyết kệ:

    Thầy tôi, ba hai tướng

    Ba cõi đều tôn quý

    Không vướng mắc hữu, vô

    Độ chúng mười hai môn

    Tuổi tôi còn thơ bé

    Sở học rất cạn cợt

    Đâu có thể nói đúng

    Thắng nghiệp của Như Lai

    Gốc của tất cả pháp

    Từ duyên nên vốn không

    Nếu trở về cội nguồn

    Mới gọi là Sa-môn.

    Sa-môn An Bệ tiếp:

    -Vị Thầy mà tôi thờ, từ vô số kiếp phụng hành pháp mơn lục độ vô cực, tứ đẳng, tứ ân, hành từ bi vô lượng, muốn cứu độ tất cả, chưa công, nhóm đức không thể kể xiết, là vị Nhất sinh bổ xứ tại cung trời Đâu-suất giáng thần thị hiện, thác thai phu nhân nước Ca-duy-la-vệ như mặt trời hiện trong nước. Vừa sinh ra Ngài bước đi bảy bước, trời đất chấn động mạnh, có ba mươi hai tướng tốt, xưng mình là Thánh.

    Ngài nói: “Ba cõi đều khổ, Ta sẽ cứu độ”. Thích, Phạm, Tứ Thiên vương đều đến thưa hỏi và nhận lời dạy bảo. Chín rồng phun nước tắm rửa thân thể Ngài. Đức của Ngài vô lượng. Nêu sơ lược những điểm chính yếu về Ngài, không phải dựa vào chỗ khen ngợi như chút ánh sáng nơi con đom đóm của tôi mà có thể hiểu được tất cả về Ngài. Cũng không phải đây là lời nói và ý nghĩ của cá nhân, mà đó là lời tôn kính ca ngợi của Thiên nhân về Bậc Đại Đạo Sư của tôi.

    Liền đọc kệ:

    Thầy tôi trời trong trời

    Tối tôn trong ba cõi

    Tướng tốt, thân trượng sáu

    Thần thông đi trên không

    Giáo hóa trừ ngũ ấm

    Nhổ phăng mười hai căn

    Không tham ngôi trời người

    Mở pháp môn thanh tịnh.

    Khi ấy Tôn giả Xá-lợi-phát hết sức vui mừng sung sướng, như người tôi gặp ánh sáng, liền thưa:

    -Lành thay! Từ xưa đến nay con ôm ấp những điều nghi vấn, lại ham học. Theo thầy học đạo từ khi tám tuổi, đến nay đã mười sáu năm, gồm thâu tất cả, trải qua mười sáu nước lớn trong thiên hạ, tự cho mình đã thông đạt, nay mới được nghe những điều chân chánh khác thường, đúng với bản nguyện của con. Hiện nay Đức Phật đang ở đâu, xin cho con được biết.

    Tôn giả An Bệ đáp:

    -Đức Thế Tôn hiện đang ngự tại vườn Trúc Ca-lăng.

    Xá-lợi-phất đem các đệ tử đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, bạch:

    -Kính bạch Đức Thế Tôn, bản thân con bị rơi vào chốn ngu tối, mê lầm triền miên, không được thưa thỉnh và lãnh thọ, nay muốn được theo đạo lớn vô cực của bậc Thánh. Xin Thế Tôn cho con được xuất gia làm Tỳ-kheo thọ giới cụ túc.

    Đức Phật vừa nói: “Lành thay! Đến đây Tỳ-kheo!” thì tóc Xá-lợi- phất liền tự rụng, ca-sa khoác thân. Đức Phật vì ông thuyết kinh, phân biệt rõ các pháp, mười hai căn bản khiến lòng thanh thản thấu suốt, lậu tận ý giải, chứng được quả Vô trước.

    Xá-lợi-phất bạch Phật:

    -Con có một người bạn đồng học tên đời là Câu-luật, nay gọi là Mục-liên. Từ thuở nhỏ đồng hẹn với nhau: Nếu người nào tìm được chân đạo thì sẽ chỉ cho nhau biết. Nay con đã được nhờ ân Thế Tôn tế độ, nhưng bạn con còn đang chìm trong trần cấu, chưa được cứu vớt, con xin nương nhờ Thánh chỉ của Thế Tôn, đi đến đó để khai thị cho bạn con.

    Phật dạy:

    -Lành thay! Thầy nên biết đúng thời, chớ nên trể nãi.

    Bấy giờ Xá-lợi-phất cúi đầu lạy sát chân Phật và từ giã ra đi, vào thành tìm Mục-liên. Từ xa trông thấy Mục-kiền-liên cùng với các đệ tử đang đi trong thành, nơi ngã tư đường. Xá-lợi-phất đi đến chỗ bạn. Mục-liên trông thấy bạn mình từ đầu đến chân đều khác hẳn không giống như mọi ngày, liền hỏi bạn:

    -Do đâu lại thay đổi y phục? Có được kiến giải gì khác lạ chăng? Xá-lợi-phất đáp:

    -Người học vô thường chỉ theo ánh sáng lớn. Ta học đã nhiều năm nhưng không gặp được Bậc Đại Thánh, nay mới gặp được đạo lớn vô thượng, vui mừng vô lượng, cho nên đến tìm bạn để cùng được thưởng thức đạo vị nhiều kiếp không cùng.

    Mục-liên đáp:

    -Đây là việc lớn, hãy khéo cùng nhau suy nghĩ kỹ.

    Xá-lợi-phất đáp:

    -Không cần nói nữa. Tôi chán việc đã từng làm lâu nay, không muốn nghe nữa. Tôi ví dụ: Người có trân bảo đẹp đem cho, có người nhận được ngọc báu như ý minh châu và anh lạc báu, lại muốn trở lại cầu xin lụa là, châu ngọc giả, không phải chỗ bản thân mình ưa muốn.

    Mục-liên đáp:

    -Trí tuệ của huynh hơn tôi. Những gì huynh tôn thờ ngưỡng mộ chắc không lầm lẫn. Tôi sẽ cùng đồng một chí hướng. Hãy đưa tôi đến xin đảnh lễ Đấng Chí Tôn và nhận lời giáo huấn của Ngài.

    Khi ấy Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đồng đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật rồi lui ngồi một bên, chắp tay bạch Phật:

    -Chúng con tự xét mình lầm lỗi, thiếu sót, bị chìm đắm trong trần cấu, nay mới được gần gũi phụng thờ Ngài. Chúng con xin được làm Sa-môn để học hỏi, thọ trì pháp luật của Thế Tôn.

    Phật dạy:

    -Lành thay!

    Hai vị Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đều bỏ bình rửa, áo da nai, gậy, cùng các dụng cụ.

    Phật gọi: “Đến đây, Tỳ-kheo!”, thì râu tóc liền rụng, ca-sa khoác thân.

    Phật thuyết chánh đế, hai vị ấy được lậu tận, ý giải, việc làm đã xong, thành quả Vô trước (A-la-hán).

    Phật dạy:

    -Hai người này nhiều đời trong những kiếp quá khứ cùng nguyện cúng dường Ta, Đợi khi Ta thành Phật sẽ hộ vệ hai bên. Nay mới gặp nhau.

    Đức Phật đã có một ngàn đệ tử, nay độ Xá-lợi-phất và Mục- kiền-liên có hai trăm năm mươi người đệ tử, cộng thành một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo được độ cùng một lúc.

    Bấy giờ vua Tịnh Phạn nghe tin Thái tử đắc đạo quả Phật đến nay đã được sáu năm. Vua nhớ Phật, trong lòng buồn vui lẫn lộn, khát khao muốn được gặp.

    Có một vị Phạm chí tên là Ưu-đà-da thông minh trí tuệ, xưa kia vốn từng hầu hạ Bồ-tát nên thường hiểu được ý của Ngài. Vua sai Ưu-đà-da đi đến thỉnh Phật, thăm hỏi: “Từ ngày cách biệt đến nay đã mười hai năm, phụ vương ngày đêm trong lòng buồn thương sầu nhớ không nguôi. Nghĩ đến lúc được gặp nhau tưởng như chết được sống trở lại”.

    Ưu-đà-da nhận lãnh sắc chỉ của vua, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lạy sát chân Phật, đem ý của vua bạch đầy đủ với Phật, ưu-đà-da thấy Phật được chư Thiên, Thích, Phạm cùng về đảnh lễ, tất cả đồng thọ nhận lời dạy, ông bèn đến trước bạch Phật, xin được xuất gia làm Sa-môn, Phật dạy: “Đến đây, Tỳ-kheo!” thì tóc ông tự rụng, liền thành Sa-môn, được đạo quả A-la-hán. Khi ấy, số người mà Phật đã độ trước và sau đắc đạo không thể kể xiết. Phật tự nghĩ: “Ta vốn ước mong cho phụ vương được Phật đạo. Bây giờ ta sẽ trở về nước độ phụ mẫu. Nay chính là lúc nên trở về. Giả như Ta trở về nước mà không gây được sự cảm động thì đối với việc ấy không nên vì sự hóa độ ít quá. Nên trước hết cho đệ tử có thần túc là Tỳ-kheo Ưu-đà-da về hiển bày thần túc cho mọi người biết Phật muốn về, họ mới hiểu được đạo tôn quý, mới cùng khát ngưỡng phát khởi đạo tâm thì việc hóa độ mới được nhiều”.

    Phẩm 28: ƯU ĐÀ DA

    Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo ưu-đà-da:

    -Phật trước đây xuất gia vốn có lời hứa với cha mẹ, là nếu đắc Phật đạo thì trở về độ cha mẹ. Nay đã được Phật đạo, công đức đã thành tựu, tất nhiến phải trở về nước để không trái với lời hứa xưa. Ngươi dùng thần túc đi trên hư không, hiện các thần biến in như thân ta; đã thành đạo lớn. Họ sẽ nghĩ đệ tử còn như vậy huống là Phật, oai đức rực rỡ vô lượng. Có như vậy mọi người mới tin thọ.

    Ưu-đà-da thọ giáo, dùng thần túc bay đi trên hư không và về đến bổn quốc Ca-duy-la-vệ. Ngay trên thành, ở giữa hư không hiện vô số các sự biến hóa: Trên thân ra nước, dưới thân ra lửa. Nước không thấm ướt thân, lửa không tổn hại thân. Bảy lần hiện, bảy lần ẩn mất. Từ phương Đông ẩn vào đất rồi hiện ra ở phương Tây; từ phương Tây ẩn, hiện ra ở phương Đông, từ phương Nam ẩn, hiện ra ở phương Bắc; từ phương Bắc ẩn, hiện ra ở phương Nam. Đi trên hư không như chim bay, ẩn vào đất như ẩn vào nước. Đi trên nước như đi trên đất. Vua và thần dân không ai là không vui mừng, nhân đó mới biết được đạo tôn quý.

    Khi ấy đọc kệ:

    Hạnh nguyện của chư Phật

    Nhiều kiếp số sinh tử

    Thương xót loài nhỏ nhiệm

    Cần khổ vô lượng kiếp

    Lúc ngồi cội Bồ-đề

    Trở lại bản nguyện xưa

    Vui mừng sẽ nghe giảng

    Khó được thường thấy nghe

    Khi mới thành Phật đạo

    Liền dẹp ma quyến thuộc

    Phá ngay gốc sinh tử

    Diệt sạch hết ái dục

    Phật nhớ đến cố hương

    Muốn gặp lại thân tộc

    Nay nghe vua Đầu-đàn

    Nói lời rất thương xót

    Tỳ-kheo tên Ưu-đà

    Tánh đẹp vui lòng người

    Phật dạy bảo Ngài đi

    Báo tin Đức Phật sẽ

    Trở về nước phụ vương

    Để tuyên bày Phật ý

    Nay vua trông Thái tử

    Muốn Ngài trở về cung

    Ưu-đà nghe Phật dạy

    Liền nhận lãnh phụng hành

    Nhân đó ngay trước Phật

    Biến hóa đi vào đất

    Thân Ngài bỗng biến mất

    Thần túc đi vào thành

    Đi đến điện đại vương

    Ngồi ở trước nhà vua

    Tỳ-kheo Ưu-đà-da

    Hiện trước Duyệt-đầu-đàn

    Biến hóa rất nhiều cách

    Bay lên điện phụ vương

    Sạch giống như hoa sen

    Đất bùn bụi không dính

    Phụ vương thấy sợ hãi

    Liền hỏi thần việc chi

    Mà thần kỳ như vậy

    Do đâu được như thế?

    Xin cho trẫm được biết

    Để giải tâm nghi kết

    Từ lúc sinh đến nay

    Chưa thấy việc lạ này.

    Thái tử xưa bỏ nước

    Cầu đạo độ chúng sinh

    Siêng tu vô số kiếp

    Đến nay mới được thành

    Vua nay chớ sợ hãi

    Thong thả lòng vui vẻ

    Tôi vì phá các ác

    Vì vua, Thái tử sai

    Vua nghe nhắc Thái tử

    Nước mắt tuôn như mưa

    Mười hai năm đến nay

    Mới nghe tiếng Tất-đạt

    Nay đem tin lành đến

    Như tỉnh mơ, sống lại

    Thái tử bỏ ngôi vua

    Thành đạo hiệu là gì?

    Rời nước ngồi sáu năm

    Tinh tấn nay thành Phật

    Hiệu là Thiên Trung Thiên

    Bậc quý nhất ba cõi

    Khi xưa tại nước ta

    Vì Ngài xây cung báu

    Chạm trỗ trang trí đẹp

    Nay nhà cửa thế nào

    Ưu-đà-da thưa vua:

    Phật mầu nhiệm chân chánh

    Thường ngồi dưới gốc cây

    Chư Thiên đến nương về.

    Con ta lúc tại cung

    Nệm thảm trải cùng khắp

    Đều dệt bằng gấm vóc

    Mềm mại sáng lấp lánh

    Vợ rồng dâng giường báu

    Thiên đế cúng ca-sa

    Không ưa dùng ý đẹp

    Tâm Ngài không tăng giảm

    Tại nước thức ăn ngon

    Cao lương hợp khẩu vị

    Nay đây việc ăn uống

    An thân những món gì ?

    Ôm bát đi khất thực

    Gieo phước không ngon dở

    Chú nguyện nhà bố thí

    Khiến đời đời an ổn

    Tất-đạt xưa ngủ nghĩ

    Không dám đánh thức càn

    Khảy đàn phát âm thanh

    Như thế khiến thức dậy

    Như Lai Tam-muội định

    Hằng đêm không ngủ thức

    Thích, Phạm đến khuyến trợ .

    Đều cúi đầu lãnh thọ

    Ở nhà tắm tạp hương

    Cùng vô số chất thơm

    Hương thơm lan khắp nhà

    Nay dùng những hương gì?

    Tám giải, ba thoát môn

    Tắm rửa trừ tâm nhơ

    Tâm sạch như hư không

    An vui không phiền nhiễu.

    Tất-đạt lúc ở nhà

    Giã vô số tạp hương

    Xông thơm y phục Ngài

    Thanh tịnh không dính bẩn

    Giới, Định, Tuệ, Giải thoát

    Dùng đạo đức làm hương

    Xông đến tám nạn xứ

    Đời đời độ mười phương

    Bốn phẩm sàng tòa đẹp

    Do nhiều báu làm thành

    Trải nhiều lớp đồ nằm

    Để nằm ngồi trên đó

    Tứ thiền làm sàng tòa

    Định ý không tán loạn

    Thanh tịnh như hoa sen

    Không dính nước bùn bẩn

    Tại cung vô số binh

    Các thần luôn hầu hạ

    Tả hữu thường ủng hộ

    Mắt không thấy đồ nhơ

    Các chúng đệ tử đủ

    Ngàn hai trăm năm mươi

    Vô số các Bồ-tát

    Đều đến cúi đầu theo

    Khi xưa chưa xuất gia

    Có bốn loại xe đẹp

    Voi ngựa và trâu dê

    Dạo đi xem bốn phương

    Ngũ thông làm xa giá

    Thấy, nghe suốt, bay đi

    Chứng biết tâm người khác

    Tự tại vượt sinh tử

    Khi con ta đi về

    Có cờ xí thêu vẽ

    Và cầm các binh trượng

    Trước sau theo hộ tống

    Dùng Từ, Bi, Hỷ, Xả

    Ngài thi ân cứu giúp

    Chở che bao ách nạn

    Để nghiêm sức chúng sinh

    Khi ra đủ kỹ nhạc

    Nên chuông và đánh trống

    Người xem chật cả đường

    Sau trước chẳng thấy nhau

    Dưới cây Ba-la-nại

    Đánh vang trống bất tử

    Các Câu-lân đắc đạo

    Tám vạn bốn ngàn trời

    Chín sáu đạo hàng phục

    Âm vang thấu ba ngàn

    Chúng sinh đều mừng vui

    Đón nhận, tâm tỏ ngộ

    Giáo hóa đất nước nào?

    Nhân dân nhiều hay ít?

    Hóa độ được bao người?

    Có quy phục hết không?

    Lãnh đạo ba ngàn cõi

    Giáo hóa các chúng sinh

    Mười phương không kể xiết

    Thảy đều được cứu độ

    Tại nước, nghĩ chánh pháp

    Giúp trẫm trị muôn dân

    Làm đúng các nghi lễ

    Ai cũng theo học tập

    Phật hiểu không, vốn không

    Bỏ hết bốn điên đảo

    Không ai không quy phục

    Rõ suốt đạo vô vi

    Phật thế gian không chống

    Hiểu biết rộng đầy đủ

    Ngươi nói phải xét lại

    Tất cả đều quy y

    Mọi người trong thiên hạ

    Một người vô số đầu

    Một đầu vô số lưỡi

    Lưỡi giải vô số nghĩa

    Nhóm họp hằng sa người

    Khen ngợi công Đức Phật

    Hằng sa kiếp không xong

    Huống tôi, trí đom đóm.

    Vua nghe càng thêm buồn vui lẫn lộn, khen:

    -Lành thay! Lành thay! A-di không nói dối, Phật sẽ về phải không? Ngày nào sẽ về đến? ưu-đà-da thưa:

    -Sau bảy ngày sẽ đến.

    Vua rất vui mừng, liền sắc quần thần cùng vạn dân trong nước: -Ta đi nghênh đón Phật. Sẽ đón rước theo nghi pháp của Chuyển luân vương. Sửa sang đường sá cho bằng phẳng, quét dọn sạch sẽ, nước thơm rưới đất, treo các tràng phan, dựng các cờ lọng cùng khắp trong nước. Chỗ sửa sang xong nên trang trí cho sáng sủa, đẹp đẽ. Ngàn vạn xe, ngựa ra cách thành khoảng bốn chục dặm để nghênh đón Phật, cúi đầu quy mạng.

    Ưu-đà-da đi đến trước thưa vua:

    -Tôi vâng lời Phật dạy, về yết kiến vua thưa lên ý của Ngài. Nay trở về tuyên bạch lại ý của vua khát khao vô lượng, muốn được gặp Chí Tôn, cúi đầu đảnh lễ, thọ lãnh giáo pháp và mong Ngài giáo hóa vạn dân đều được nhờ phước lành.

    Vua thưa:

    -Bấy giờ là phải thời, chớ nên chậm trễ.

    Khi ấy Ưu-đà-da trở về gặp Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật để trình bày lại ý của vua, là khi được biết Thế Tôn và các đệ tử hẹn bảy ngày nữa sẽ về đến bổn quốc thì vua và quần thần không ai là không vui mừng. Vua cho biết, từ ngày cách biệt đến nay đã nhiều năm, ngày đêm tưởng nhớ, ăn không ngon, ngủ không yên, khát khao tính đếm từng ngày trôi qua, đợi Thế Tôn về.

    Bảy ngày đã qua, bây giờ Đại Thánh bảo các đệ tử:

    -Ngày mai sẽ bắt đầu đi đến Ca-duy-la-vệ để yết kiến phụ vương. Tất cả đều lo chuẩn bị y phục, bình bát.

    Thích, Phạm, Tứ vương nghe tin Phật trở về nước đều đến hộ tống. Trời mưa nước thơm, rải hoa, đốt hương, dựng các cờ lọng. Tứ vương, chư Thiên đều ở trước dẫn đường. Phạm thiên hầu bên hữu, Đế Thích hầu bên tả. Các chúng Tỳ-kheo đều đi theo sau Phật. Chư Thiên, Long thần, mang hoa hương, kỹ nhạc theo hầu trên hư không.

    Khi Phật vừa lên đường, trước tiên ứng hiện các điềm lành: Ba ngàn quốc độ chấn động sáu cách, cây khô đã trăm năm nay đều trổ hoa trái. Các khe suối khô cạn, nay tự nhiên tuôn nước. Vua thấy điềm lành này, biết Phật đã đến liền ra lệnh các Thích chủng, đại thần bá quan đều đi đến chỗ Phật rải hoa, đốt hương, dựng các tràng phan, đánh các kỹ nhạc, cùng ra nghênh đón Phật.

    Từ xa vua thấy Phật ở giữa đại chúng như mặt trăng giữa các ngôi sao, như vầng thái dương vừa mới xuất hiện tỏa ánh sáng rực rỡ, như bông hoa tươi tốt tỏa hương thơm lừng. Thân cao lớn một trượng sáu, tướng tốt trang nghiêm, rực rỡ như núi vàng ròng. Vua gặp Phật, trong lòng buồn vui lẫn lộn, vì ly biệt lâu ngày, nay mới gặp lại. Vua đến trước Phật cúi đầu làm lễ, đại thần bách quan tuần tự cuối đầu làm lễ. Vua liền trở vào thành, chân đạp cái then cửa, đất chấn động mạnh. Trời mưa các thứ hoa, các nhạc khí tự kêu, người mù thấy được, người điếc nghe được, người bị què cả hai chân đi được, người bệnh được lành, người ngọng nói được, người cuồng tỉnh trí, người gù được thẳng, người bị độc không bị hại. Trăm loại chim thú cùng kêu những âm ^ thanh hòa nhã. Phụ nữ trang sức các loại vòng ngọc chạm vào nhau phát ra âm thanh. Ngay trong lúc thấy những biến hóa như vậy, không ai là không hoan hỷ. Kho báu tự nhiên xuất hiện, trong chứa đầy ngọc quý, người nào tâm ý khác biệt, đều cùng hòa đồng, cùng nhau chắp tay tự quy mạng Phật. Các loài súc sinh nhờ ánh sáng của Ngài nhuần thấm, đều được sinh lên trời. Người mẹ mang thai nhờ ánh sáng này giảm bớt sự đau đớn, sinh con đẹp đẽ, đoan chánh, tiêu sạch dâm, nộ, si, không còn trần lao, xem nhau như cha mẹ, anh em, con cái và như chính bản thân mình. Địa ngục ngừng nghỉ, ngạ quỷ no đủ, theo ánh % sáng đến quy mạng Đức Thế Tôn, đều phát đạo ý.

    Vua thấy Phật cao lớn một trượng sáu, tướng tốt sáng chói, thân, sắc vàng ròng, các căn vắng lặng, như mặt trăng giữa các vì sao, rực rỡ như nũi vàng. Thiên đế, Phạm vương, Tứ vương tôn kính; thấy các Phạm chí từ lâu ở trong núi phơi trần thân hình, nắng thiêu, gió táp, thân thể đen thui, gầy ốm đứng hầu một bên Phật như con voi đen bên ngọn núi vàng, không thể nổi bật. Đức lớn của Phật hiển lộ khiến cho tất cả đều vui mừng.

    Vua lại sắc các gia đình danh giá thuộc dòng họ Thích ở trong nước, chọn năm trăm người đoan chánh có nhan mạo đẹp đẽ, đặc biệt, chọn năm trăm người xuất gia làm Sa-môn để hầu hạ bên Phật, giống như chim phượng hoàng ở trên núi Tu-di, cũng như ngọc ma-ni để trong hộp thủy tinh.

    Bấy giờ Nan-đà, em của Phật cũng muôn làm Sa-môn, chưa cạo râu tóc. Nan-đà có một người nô bộc làm thợ hớt tóc, đến trước bạch Phật:

    -Thân người khó được, Phật pháp khó gặp, cơ hội tốt khó có. Nay con là trượng phu, cũng như các Tôn giả đã biết đạo rất cao xa không thể suy lường, không ham muốn sự giàu sang vinh hiển ở đời, xả bỏ địa vị tôn quý đi làm Sa-môn. Nay con ở địa vị nhỏ bé, thấp hèn, hoàn toàn không có thể sánh kịp các Tôn giả thì có gì xuất gia hành đạo! Cúi xin Phật thương xót cứu giúp ba đường, chìm đắm trần ai, cứu độ con làm Sa-môn.

    Phật dạy: “Lành thay!” và gọi: “Đến đây, Tỳ-kheo!” thì tóc ông tự rụng, ca-sa khoác thân, liền thành Sa-môn, đảnh lễ các Sa-môn và theo thứ lớp ngồi vào vị trí.

    Nan-đà đến sau, theo thứ lớp đảnh lễ các Tôn giả. Khi đến chỗ Sa-môn này thì đứng chớ không lạy. Trong lòng tự nghĩ: “Đây là kẻ nô bộc trong nhà, không thể làm lễ”. Phật biết tâm niệm đó nên bảo Nan-đà:

    -Phật pháp bao dung tất cả, căn cứ chỗ tu học trước hay sau chứ không nhắm vào sự cao quý hay thấp hèn. Cũng như biển lớn dung nạp tất cả muôn sông, bốn dòng không tách nước bùn; giữ tâm như đất, bốn đại đều bình đẳng. Đất nước lửa gió, trong ngoài không khác, tinh thần rỗng không, thanh tịnh. Chỗ đắm trước là danh, nên bỏ tự đại, dùng pháp để tự thăng tiến mới đúng với lời giáo huấn của đạo Tiên thánh vô cực.

    Bấy giờ Nan-đà nghe Phật dạy những lời thiết tha, chí lý, trước việc chẳng đặng đừng, hiểu rõ tất cả vốn không, vứt bỏ tự đại, hạ ý làm lễ. Trời đất chân đống mạnh, cả chúng hội đều khen:

    -Lành thay! Vì đạo tâm bình đẳng, tự dẹp bỏ cống cao, hạ thấp tâm xuống, cảm đến trời đất, làm cho chấn động mạnh.

    Bắt đầu từ đó Phật chế pháp: Ai tu học trước là lớn, ai tu học sau là nhỏ. Đó là lễ thường tình của chánh pháp, điều không gây hiềm khích thì không có sự tranh cãi.

    Bấy giờ Phật vào cung, ngồi ở trên điện. Vua và thần dân ngày ngày cúng dường trăm món thức ăn ngon. Phật giảng kinh pháp, người được độ nhiều vô lượng.

    Cù-di dắt La-vân đến cúi đầu lễ sát chân Phật, ngước nhìn thăm hỏi:

    -Ly biệt đã lâu, thiếu vắng sự cúng dường hầu hạ.

    Bấy giờ quần thần trong triều đều ôm lòng nghi ngờ trầm trọng. Họ cho rằng Thái tử bỏ nước ra đi đã mười hai năm, do đâu mang thai sinh La-vân?

    Phật thưa phụ vương nên nói cho quần thần rõ:

    -Cù-di thủ tiết, trinh khiết thanh tịnh, không hề có tỳ vết. Giả sử vương tộc không tin, nay sẽ hiện rõ để chứng minh.

    Khi ấy Đức Thế Tôn biến hóa khiến tất cả chúng tăng đều giống in như Phật, tướng tốt sáng chói giống in nhau không khác.

    Bấy giờ La-vân vừa đúng bảy tuổi, Cù-đi liền đem chiếc vòng ngọc làm của tin trao cho La-vân và nói:

    -Đó là vật của cha con, hãy đem đến trao lại.

    La-vân khi ấy liền đi thẳng đến trước Phật, đem vòng ngọc trao cho Đức Thế Tôn. Vua và quần thần đều rất vui mừng, đồng thốt lên:

    -Lành thay! Đã rõ ràng, rất là chân thật. La-vân là con Phật.

    Phật nói với phụ vương cùng các quần thần:

    -Từ nay về sau không còn hoài nghi gì nữa. Đây chính là con ta. Duyên ta hóa sinh. Chớ nghĩ xâu cho Cù-di.

    Vua được chứng đạo, Cù-di thọ giới, tịnh tu phạm hạnh. Cung nhân lớn nhỏ đều thọ giới pháp, một tháng sáu ngày trai, một năm ba tháng trai giữ gìn không lười trễ. Trong nước thanh bình, an ninh, mưa gió thuận hòa không trái thời tiết, ngũ cốc dẫy đầy, dân chúng an cư , lạc nghiệp. Muôn dân vạn nước đều đến chúc mừng, đạo đức ngày thêm vun bồi như trăng đầu tháng.

    Phẩm 29: KHEN NGỢI PHẬT

    Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo với nhóm tám vị trời Thần Diệu, Đại Thần Diệu, Hoan Dự, Gia Hoan, Chiên-đàn, Đại Duyệt, Tịch Nhiên, Tịch Luật, Thiên tử cõi trời Tịnh cư:

    -Phật lập đại hội chuyển pháp luân. Phật vì tất cả cho nên cứu giúp mười phương, không khiến cho bị dứt bỏ. Khai mở tâm ý chúng sinh, trải khắp thiên hạ mới đền đáp được ân Phật.

    Đức Thế Tôn lại bảo Thiên tử Thần Diệu:

    -Nay kinh này đặt tên là “Phổ Diệu Đại Phương Đẳng”, là điều đáng vui mừng của các Bồ-tát, khiến khắp các cõi Phật đều được nghe. Kinh này được truyền đến nơi nào, thì nơi ấy chói sáng. Đây chính là từ kim khẩu Phật nói ra nên phải mau thọ trì đọc tụng, là con mắt của Phật pháp khiến cho lưu bố cùng khắp. Nếu Bồ-tát khi học, nghe kinh pháp này, tâm người đó vững mạnh, tinh tấn phụng hành đạo Vô thượng Chánh chân, thì đó là cái học rất chân chánh. Nếu có chúng sinh ưa thích sự vi diệu, trụ pháp Đại thừa, không có tâm niệm nghi ngờ, hàng phục lưới ma, thì đọc tụng xong, chắc chắn đều đạt được quả vị Đại Thánh. Các phái ngoại đạo dị học không hoành hành được. Khuyên giúp người học kinh điển mầu nhiệm này, thành tựu được đức lớn, đến với Đại thừa. Nếu có người hiền, nghe nói kinh Phổ Diệu này, chắp tay tự quy y, thì liền bỏ được nguồn gốc của tám việc biếng nhác, thành tựu được tám công: huân. Những gì là tám?

    1. Được dung mạo đoan nghiêm.

    2. Được thế lực mạnh mẽ.

    3. Được quyến thuộc đông nhiều.

    4. Mau đạt được biện tài vô lượng.

    5. Học nhanh được xuất gia.

    6. Việc làm được thanh tịnh.

    7. Được định Tam-muội.

    8. Được trí tuệ sáng suốt, không điều nào là không rõ.

    Đó là tám công đức.

    Nếu có người nào vì Pháp sư, trải tòa, đọc tụng kinh này sẽ đượctám chỗ ngồi. Những gì là tám?

    1. Được chỗ ngồi của trưởng giả.

    2. Được chỗ ngồi của Chuyển luân vương.

    3. Được chỗ ngồi của Thiên đế Thích.

    4. Được chỗ ngồi của Tự tại thiên.

    5. Được chỗ ngồi của Đại phạm thiên.

    6. Được chỗ ngồi của Bồ-tát.

    7. Được chỗ ngồi của Như Lai.

    8. Được chỗ ngồi của Chuyển pháp luân, độ thoát tất cả.

    Đó là tám chỗ ngồi.

    Nếu có Pháp sư giảng dạy pháp này, giả sử có người khen ngợi: “Lành thay!”, người đó sẽ được tám hạnh thanh tịnh. Những gì là tám?

    1. Lời nói và việc làm phù hợp, không mâu thuẫn.

    2. Lời nói chí thành không luông dối.

    3. Ở trong chúng hội chân thật, không dối lừa.

    4. Nói ra điều gì mọi người tin theo không xa bỏ.

    5. Lời nói dịu dàng không cộc cằn.

    6. Tiếng nói êm ái giống như chim loan.

    7. Thân tâm theo thời, âm thanh như Phạm thiên. Người trong hội nghe, không ai là không lãnh thọ.

    8. Âm vang như Phật, có thể làm vui lòng chúng sinh.

    Đó là tám hạnh thanh tịnh.

    Nếu có người ghi chép kinh Phổ Diệu này trên thẻ trúc, lụa, không keo kiệt lẫn tiếc kinh, không ôm lòng đố kỵ, mọi người khen ngợi, được ba mươi bốn hạnh, danh đức truyền khắp.

    Nếu lại có người học kinh điển này sẽ được tám đại tàng. Những gì là tám?

    1. Được ý tàng, chưa từng quên bỏ.

    2. Được tâm tàng, phân biệt kinh pháp, không chỗ nào là không hiểu.

    3. Được vãng lai tàng, hiểu khắp tất cả các kinh pháp của Phật.

    4. Được tổng trì tàng, đối với tất cả những điều đã nghe đều có thể phân biệt nhớ hết.

    5. Được biện tài tàng, vì các chúng sinh tuyên dương kinh điển, tất cả đều vui mừng lãnh thọ.

    6. Được pháp tàng, hộ trì chánh pháp.

    7. Được tùy ý pháp tàng, chưa từng đoạn tuyệt giáo pháp tam bảo.

    8. Được phụng hành pháp tàng, mau được pháp nhẫn vô sở tùng sinh.

    Đó là tám đại pháp tàng.

    Nếu có người nào thọ trì đọc tụng kinh Phổ Diệu này thì được đầy đủ tám nghiệp. Những gì là tám?

    1. Thí nghiệp: Không có tâm keo kiệt, ganh ghét.

    2. Giới nghiệp: Đầy đủ các nguyện.

    3. Văn nghiệp: Tập hợp các trí tuệ đạt đến vị quán đảnh.

    4. Tịch nghiệp: Siêng năng đốivới tất cả định ý chánh thọ.

    5. Kiến nghiệp: Có thể thấy đầy đủ được trí tam đạt.

    6. Phước nghiệp: Tướng tốt đầy đủ, dạy bảo nước Phật

    7. Tuệ nghiệp: Vì mọi người thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc.

    8. Đại ai nghiệp: Vì mười phương trồng các gốc đức, không biếng nhác trong việc thọ trì pháp Phổ Diệu này.

    Tâm tự nghĩ khiến cho tất cả chúng sinh đều mau đạt được pháp này. Do đức bổn ấy, lại được tám phước lớn. Những gì là tám?

    1. Thành phước đức lớn của Chuyển luân thánh vương, thấy cảnh Niết-bàn kiến lập lòng tin thuần nhất.

    2. Được làm Tứ Thiên vương.

    3. Được làm Đế Thích.

    4. Được làm Viêm thiên.

    5. Được làm Thiên tử Đâu-suất.

    6. Được làm Vô kiêu lạc thiên.

    7. Được làm Hóa tự tại thiên.

    8. Được làm Như Lai, dứt các pháp bất thiện, đầy đủ các gốc thiện.

    Đó là tám phước lớn.

    Nếu có người thọ trì kinh Phổ Diệu này, hoặc chí tâm nghe rõ suốt, ghi nhớ, thì được tám tâm thanh tịnh. Những gì là tám?

    1. Thường thực hành Từ tâm, tiêu trừ sân giận.

    2. Thường thực hành Bi tâm, trừ các hoạn hại.

    3. Thường thực hành Hỷ tâm, tiêu trừ các sự không vui.

    4. Thường thực hành Xả tâm, trừ các sự kết trói dính mắc.

    5. Tu hạnh Tứ thiền, ở ngay nơi cõi Dục mà được tự tại.

    6. Hành Tứ vô sắc định do mình mà được.

    7. Được năm phép thần thông dạo chơi nơi các cõi Phật, trừ các quái ngại, các nạn ngăn che.

    8. Đạt được định ý mạnh mẽ, một mình dạo đi trong ba cõi.

    Đó là tám tâm thanh tịnh.

    Phẩm 30: CHÚC LỤY

    Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo hiền giả Ca-diếp, hiền giả A-nan và Bồ-tát Di-lặc:

    -Ta từ vô số kiếp tu theo pháp này mới thành tựu đạo Vô thượng Chánh chân. Nay phó chúc cho các thầy, các thầy hãy trao tay nhau thọ trì đọc tụng, rộng vì người giảng nói.

    Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn cho kinh pháp này được truyền bá khắp mười phương, Ngài thuyết kệ:

    Phật xem thấy các loài chúng sinh

    Đều được La-hán như con ta.

    Nếu người ngàn ức kiếp cúng dường

    Và tiếp cúng dường hằng sa nữa

    Lại thêm cúng dường Bích-chi-phật

    Có người một ngày thờ kinh này

    Tính công đức này vượt hơn kia

    La-hán số đông nhiều vô kể

    Tất cả chúng sinh thành Duyên giác

    Nếu có người ức kiếp cúng dường

    Ẩm thực, y phục, sàng, ngọa cụ

    Hương bột, hương tạp và danh hoa

    Nếu có người nhất tâm chắp tay

    Chí tâm tự quy một Như Lai

    Miệng tự xưng lên Nam-mô Phật

    Phước công đức này thật tối thượng

    Tất cả chúng sinh đều thành Phật

    Nếu có người ức kiếp cúng dường

    Y bị, ẩm thực, sàng, tọa cụ

    Hương bột, hương tạp và danh hoa

    Nếu chánh pháp sắp bị lâm nguy

    Vứt bỏ thân mạng để hộ trì

    Nếu người nào trong một ngày đêm

    Giữ các pháp này tất hơn kia.

    Nếu người phụng sự mười phương Phật

    Cùng với Duyên giác các Thanh văn

    Nếu người giữ vững đạo tâm này

    Nhận lãnh yếu điểm các pháp vương

    Tất cả kinh là đạo chắc thật

    Nếu Như Lai nhiều như hằng sa

    Cúng dường thờ phụng các vị ấy

    Nếu có người tay nhận kinh này

    Đạt được biện tài không ai sánh

    Phân biệt một câu đến ức kiếp

    Trí tuệ chánh nghĩa không hao tổn

    Nếu đem kinh đây giảng cho người

    Trí tuệ đạo sư không bờ đáy

    Xét không có ai cùng sánh bằng

    Giống như sông biển không cùng tận

    Người nghe pháp này cũng như vậy.

    Phật bảo các Hiền giả Ca-diếp, A-nan, Di-lặc cùng dặn dò nhau, lãnh thọ, hành trì, đọc tụng, học tập, khiến cho lưu bố cùng khắp. Chỉ dạy cho những người cùng học và những người trong mười phương, đều khiến cho tất cả được nhờ ân tế độ để cho không bị dứt mất. Lần lượt dạy bảo cho nhau, lần lượt thành tựu cho nhau, khiến cho không bị đình trệ, ngôi Tam bảo không diệt, mới báo được ân Phật.

    Phật dạy như vậy, Thiên tử Đại Thần Diệu và Thiên tử Tịnh cư, Bồ-tát Di-lặc, Bồ-tát Hiền Kiếp và Đại Ca-diếp cùng các đại đệ tử, Thiên, Long, Quỷ thần, Kiền-thát-hòa, A-tu-luân nghe Phật giảng thuyết đều hoan hỷ phụng hành.

    HẾT QUYỂN 8

    (Trọn Bộ 8 Quyển)

       

    Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm dạy: "NẾU QUÊN MẤT TÂM BỒ ĐỀ MÀ TU CÁC PHÁP LÀNH, ĐÓ LÀ NGHIỆP MA."
    Giáo Pháp nào có Tâm Bồ Đề là giáo pháp chân chính của Phật Thích Ca Mâu Ni.

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 3 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Similar Threads

  1. Trả lời: 22
    Bài viết cuối: 06-10-2017, 05:30 AM
  2. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 17-08-2012, 10:12 AM
  3. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 09-06-2011, 06:43 AM

Members who have read this thread : 7

Actions : (View-Readers)

  1. kenhlike07
  2. minate001
  3. Noname
  4. Tục Huân
  5. vienquang6

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình