|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 9 của 9 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Kết quả 25 đến 27 của 27

Chủ đề: Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 20, 21 22

  1. #25
    Điều Hành Viên khuclunglinh is on a distinguished road
    Ngày tham gia
    Dec 2017
    Giới tính
    Chưa chọn Giới Tính
    Bài viết
    384
    Credits
    23,469
    9
    Professional
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    233
    Thanked 102 Times in 93 Posts
    Rep Power
    1

    Mặc định

    Kinh Thày VQ:

    Dạ đúng đây là chỗ rất là khỏ hiểu. KLL bắt đầu tới chỗ khó hiểu này qua một đoạn pháp ngữ của Nam Dương Huệ Trung:

    Những lời dạy của sư tuy ngắn gọn, nhưng rất cao siêu, trung và hạ cơ khó hội được. Sử sách ghi lại những pháp thoại như sau:

    Một vị tăng đến hỏi Sư: "Thế nào là giải thoát?"
    Sư đáp: "Các pháp không đến nhau, ngay đó là giải thoát."

    Tăng hỏi tiếp: "Thế nào đoạn được?"

    Sư bảo: "Đã nói với ngươi các pháp không đến nhau, có cái gì để đoạn!"


    Đặt tâm ở một số vị trí thich hợp để quán như là đặt TÂM nói sinh tử nhị khí xuất hiện của kinh Thủ Lăng Nghiêm: sẽ nhìn ra hiện tượng một pháp bị diệt, và một pháp mới bắt đầu. Thời gian sinh tử nhị khí tồn tại bao lâu, và nó sẽ là gì cũng tùy thuộc vào năng lực chuyển hóa của tâm trên việc đi lên CON ĐƯỜNG KHÁC và dẫn tới hiện tượng xả bỏ một pháp đã không còn thanh tịnh nữa.


    Đứng ở vị trí đặt tâm là "LÀM NGƯỜI CHỦ" luôn đi trên con đường thanh tịnh này, có lẽ cái TRÍ có thể có nhiều tên gọi khác nhau:

    A. Bình đẳng tánh trí: ...khi pháp này không còn thanh tịnh nữa, thì tâm xả bỏ .. nhưng khi con đường mới, pháp mới này không thanh tịnh nữa luôn, thì tâm vẫn xả bỏ pháp này luôn, bởi vì TỰ TÁNH của các PHÁP cũng là THANH TỊNH.

    B. Vấn đề đặt tâm ở NGUỒN khác với đặt tâm ở NGỌN được nhắc tới trong Phẩm Hóa Thành Dụ của Kinh Pháp Hoa khi đức Phật gọi việc đặt tâm ở NGỌN là: KHÔ ĐỊNH.

    Cái tên goị này có lẽ hơi lạ, nhưng chữ "KHÔ" có lẽ là "không đủ nguồn nước", mà "nước" thường được ví trong các kinh khác với thể tánh: tịnh, minh, thoải mái, nhẹn nhàng, lợi ích.

    Cho nên, có lẽ, danh từ KHÔ ĐỊNH được xài trong phẩm HÓA THÀNH DỤ chính là nghĩa: KHÔNG PHẢI LÀ NGUỒN thì không đủ NĂNG LỰC .. và bởi vì chính pháp đang có định đó, cũng sẽ có lúc không có định và thanh tịnh luôn làm nên hiện tượng PHÁP = VÔ NGÃ. Nguồn gốc của đoạn kinh này là do có một số vị Thanh Văn, Duyên Giác do tu tập các pháp nhị thừa mà cho rằng đã rốt ráo, nhưng nơi họ đặt tâm lại không đúng cho nên trong kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ, đức Phật đặc biệt giảng về "CHỖ AN TRỤ TÂM" = chỗ đặt tâm không đúng chỗ này, và cổ đức có nhiều người gọi đó là "KHÔ ĐỊNH".


    - Vấn đề đặt tâm ở "NGUỒN" có lẽ chỉ xảy ra khi mă "năng lực của TÂM là NGUỒN xuất hiện" và chỗ TỰA của TÂM như là MỘT TÂM TRỌN VẸN được hình thành, chứ không còn tựa vào năng lực và trí lực của tâm của tâm "THỨC".

    Đơn cử cho việc sử dụng tâm là nguồn được nhắc đến trong kinh Trường Bô 1, Kinh Tu Bà :

    Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đưa đến lậu tận trí.

    Vị ấy tuệ tri như thật: "Ðây là khổ", Tuệ tri như thật: "Ðây là nguyên nhân của khổ", tuệ tri như thật: "Ðây là sự diệt khổ", tuệ tri như thật: "Ðây là con đường đưa đến diệt khổ", tuệ tri như thật: "Ðây là những lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc", nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa". Ðó là trí tuệ của vị ấy.


    C. SỰ THƯỜNG TRỤ của CHƠN TÂM Trong Thời Gian và Không Gian Vô Cùng Tận và Không Ngằn Mé

    Không gian không ngằn mé gọi là Vũ.

    Thời gian vô cùng tận gọi là Trụ.

    Kinh Hoa Nghiêm có đoạn nói:

    “Phật trong vô biên kiếp-hải xa. Vì độ chúng-sanh cầu giác đạo”. (Phật ư vô biên đại-kiếp hải. Vị chúng-sanh cố cầu bồ-đề).



    Có lẽ .. phải thật sự nhìn thấy năng lực của tâm,

    tựa vào năng lực của tâm

    nơi cái nguồn ... "đã không còn một cá thể nữa = thức " .. chúng ta mới hiểu nổi những đoạn kinh có đặc tính NHẤT THỪA như là Kinh Hoa Nghiêm khi mà NĂNG LỰC của TÂM đã không còn bị giới hạn bởi "tâm thức". Khi mà sự thanh tịnh của từng thức đã không còn là sự thanh tịnh của một phân tâm nữa. Khi mà sự thanh tịnh của tâm, đã không còn là sự thanh tịnh của từng cá thể riêng biệt nữa. Khi mà .... [tới đây thì cũng tự chịu bí luôn ... vì ĐẠO SAO LỚN QUÁ, sao mà thấy hết được ... smile].


    Theo truyền thuyết, hồi xưa chính đức Phật cũng chỉ giảng kinh Hoa Nghiêm có 21 ngày, và đã từ bỏ ý định giảng kinh này, bởi vì: KHÓ HIỂU

    Khó hiểu bởi vì "CHỖ ĐẶT TÂM" .. muốn thay đổi không dễ. Và vì vậy, Đức Phật mới nghĩ ra phương pháp trình bày các pháp NHỊ THỪA để "CHUYỂN CHỖ ĐẶT TÂM". Nhưng có lẽ, các pháp NHỊ THỪA cũng khó hiểu luôn [smile], cho nên CON ĐƯỜNG THANH TỊNH ĐẠO muốn đặt chân lên:

    - phải thật sự PHÁT TÂM DŨNG MÃNH .. đi con đường XUẤT THẾ GIAN [rời bỏ trí tuệ cả các thức ...]


    KLL

       


  2. The Following 2 Users Say Thank You to khuclunglinh For This Useful Post:

    Nguyên Chiếu (12-02-2018), vienquang6 (10-02-2018)

  3. #26
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    5,181
    Credits
    5,926
    23
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần
    Thanks
    1,565
    Thanked 1,514 Times in 1,003 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 20 Phạm Hạnh

    * Tứ Vô Ngại Trí.

    * ĐẮC VÀ VÔ SỞ ĐẮC LÀ TIÊU CHUẨN MỘT THƯỚC ĐO CỦA MỘT ĐỊA VỊ.....

    Kinh văn:

    Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu Bồ tát được tứ vô ngại trí hóa ra Bồ tát còn có sở đắc sao ?

    Phật khen: Lành thay ! Điều Như Lai sắp nói thì ông lại hỏi.

    Này Ca Diếp ! Bồ tát vô sở đắc mới được tứ vô ngại trí, nếu Bồ tát có ý niệm sở đắc thấy mình có sở đắc thì không thể có được tứ vô ngại trí, vì Bồ tát ấy thường quay cuồng trong bốn thứ điên đảo, luôn bị chướng ngại, làm sao có được vô ngại trí.

    Vô sở đắc gọi là tuệ giác. Hữu sở đắc gọi là vô minh. Bồ tát dứt hết vô minh u tối, tuệ giác phát sinh cho nên Bồ tát vô sở đắc.

    Vô sở đắc cũng gọi là Đại Niết Bàn. Bồ tát an trú trong Đại Niết Bàn, không phân biệt, chấp thủ tánh tướng của vạn pháp. Có sở đắc là có hai mươi lăm cõi. Bồ tát dứt hết hai mươi lăm cõi được Đại Niết Bàn. Vì vậy, Bồ tát là bậc vô sở đắc và chỉ có bậc vô sở đắc mới có được "Tứ vô ngại trí". Do vậy, Ca Diếp, ông không nên gạn rằng: Bồ tát được "Tứ vô ngại trí" là "có sở đắc"!
    Tứ Vô Ngại Trí còn được gọi là 4 Vô ngại biện tài.

    Tài biện thuyết, tài giảng luận về đạo lý không ai bằng, tài ăn nói hùng hồn, xảo diệu, khiến ai nấy đều tín thọ.

    Tài biện thuyết của Phật và Bồ Tát không trở ngại, không có sức chi chống ngăn nổi, không có ai phản đối được, kêu là biện tài vô ngại giải. Phật và Bồ Tát có đủ bốn biện tài, tứ vô ngại biên, tứ vô ngại giải, tứ vô ngại trí:

    Biện tài về pháp lý không trở ngại, không thuộc hết các danh từ: Pháp vô ngại biện.

    Biện tài về nghĩa lý không trở ngại: Nghĩa vô ngại biện.

    Biện tài về văn từ không trở ngại, lời ăn nói rất hoạt bát: Từ vô ngại biện.

    Biện tài vui thuyết không trở ngại, vì biết căn tánh của chúng sanh, nói cho họ rất vừa ý, ưa nghe: Nhạo thuyết vô ngại biện.

    Lại có bảy tài biện luận: Thất biện tài như dưới đây:

    Tiệp biện: Mau mắn mà luận biện. Như có ai hỏi thì đáp lại liền hằng cần phải chần chờ.

    Vô đoạn biện: Trong khi thuyết pháp, hết giảng phần nầy đến phần khác, diễn giải một cách khéo léo, không đứt đoạn.

    Tấn biện: Tài nói lưu loát. Trong khi minh hiểu sự lý, lời ăn, tiếng nói lanh lẹ, trôi chảy như dòng nước.

    Tùy ứng biện: ứng hạp với thời cơ, lời nói ra không sai lạc.

    Vô mậu biện: Trong khi giảng kinh thuyết pháp, không có lầm lộn.

    Phong nghi vị biện: Biện giải ra vô số lý sự một cách đầy đủ và có ý vị.

    Nhứt thiết thế gian tối thượng diệu biện: Sự biện luận cao trổi hơn hết, huyền diệu hơn hết. Tài biện thuyết nầy có năm đức tánh:

    Tiếng sâu xa như sấm.

    Tiếng trong trẻo nghe rất xa.

    Tiếng có đủ sự thương mến, nhã nhặn như tiếng chim ca lăng tần già.

    Khiến cho chúng sanh đem vào tâm và ái kính.

    Khiến cho kẻ nghe vui vẻ không chán.

    Lại có tám biện tài dưới đây:

    Bất tê hát biện: Sự biện luận chẳng có la hét.

    Bất mê loạn biện: Sự biện luận chẳng có mê loạn.

    Bất bố úy biện: Sự biện luận chẳng có sợ sệt.

    Bất kiêu mạn biện: Sự biện luận chẳng có lòng tự cao, khinh dể.

    Nghĩa cụ túc biện: Sự biện luận có đủ nghĩa lý.

    Vị cụ túc biện: Sự biện luận có đủ ý vị.

    Bất chuyết sáp biện: Sự biện luận lưu thông, chẳng vụng về, dính, rít.

    Ứng thì phân biện: Sự phân biện nhằm thời phải lúc.

    (Theo từ điển Phật học Hán Việt của Đoàn Trung Còn.)

    Khi hành giả đã không còn Ngã Chấp, tức là không còn thấy (Ta để chứng đắc), thì mới có được 4 Vô ngại trí.

       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  4. The Following User Says Thank You to vienquang6 For This Useful Post:

    khuclunglinh (15-02-2018)

  5. #27
    Điều Hành Viên khuclunglinh is on a distinguished road
    Ngày tham gia
    Dec 2017
    Giới tính
    Chưa chọn Giới Tính
    Bài viết
    384
    Credits
    23,469
    9
    Professional
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    233
    Thanked 102 Times in 93 Posts
    Rep Power
    1

    Mặc định

    Kính Thày VQ:

    Làm người là vậy, chính cái chuyện sanh tử sống chết nối nhau nó cứ đến quá mau, mà lòng người thì đúng là Thân Chấp Vạn Tượng: nên lúc nào cũng Ngã Chấp, Pháp Chấp làm cho xính quýnh.

    Mà không phải riêng gì những người bình thường, cả những bậc đạo học cao thâm, nhiều khi cũng mắc phải. Đó là câu truyện của Tổ Đức Sơn Tuyên Giám trước khi ngài liễu ngộ pháp thân:

    Sư họ Chu, quê ở Kiến Nam, Giản Châu, xuất gia lúc 20 tuổi. Sư thông Luật tạng và các bộ kinh, luận. Vì thường giảng Kim cương bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh nên thời nhân gọi sư là Chu Kim Cương. Nghe Nam phương Thiền tông thịnh hành sư bất bình nói:

    "Kẻ xuất gia muôn kiếp học uy nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật. Những kẻ ma ở phương Nam dám nói ‘Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật.’ Ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết đống ma quái để đền ân Phật."

    Sư bèn khăn gói lên đường, mang theo bộ Thanh Long sớ sao tới Lễ Châu. Trên đường, sư gặp một người đàn bà bán bánh rán, bảo bà lấy ít bánh ăn điểm tâm. Bà chỉ gánh của sư hỏi:

    "Gói này là gì."

    Sư trả lời: "Thanh Long sớ sao."

    Bà nói: "Tôi có một câu hỏi, nếu thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp không được, mời thầy đi nơi khác."

    Sư ưng ý, bà liền hỏi: "Trong kinh Kim cương có nói ‘Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc.’ Vậy Thầy muốn điểm tâm nào?"

    Sư lặng thinh, không đáp được.


    ** Sư xuất gia năm 20 tuổi, thông làu kinh tạng, nhưng lại không liễu ngộ pháp thân, và vẫn còn mắc pháp chấp, cho nên khi bị bà lão hỏi trúng nhược điểm: TAM TÂM VÔ HỮU ĐẮC, thì ngài trả lời không nổi [smile]


    Có lẽ vì cái chỗ trống rỗng đó, rất khó lĩnh hội, và cần phải đứng ở một VỊ TRÍ THÍCH HỢP mới hoàn toàn lãnh hội được, cho nên, mãi sau khi đã ở với Long Đàm trong một thời gian.

    Một đêm, sư đứng hầu. Long Đàm bảo:

    "Đêm khuya sao chẳng xuống?"

    Sư kính chào bước ra, lại trở vào thưa: "Bên ngoài tối đen." Long Đàm thắp đèn đưa Sư. Sư toan tiếp lấy, Long Đàm liền thổi tắt. Sư bỗng nhiên đại ngộ, tất cả kiến chấp đều tan vỡ, quỳ xuống lễ bái. Long Đàm hỏi:

    "Ngươi thấy gì?"

    Sư thưa: "Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư Hoà thượng trong thiên hạ."


    *** chỗ sư thấy là một cái BIỂN LỚN .. một nơi hoàn toàn trống rỗng, như thân một cây tre, bên trong của nó hoàn toàn trống rỗng, không một vật .. không một chỗ đặt chân: Vạn Pháp Vô Ngã.

    Nhưng đây vốn là một chỗ thật sự rất khó lãnh hội, nếu không có người "CHỈ TÂM" và biết "ĐẶT TÂM ĐÚNG CHỖ".



    A. Ở Trong Thức: Tứ Đại Như Loài Chim Không Chân Đứng và Thức Không thể Thấy

    Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ta nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường đem theo con chim có thể thấy bờ. Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa không trông thấy bờ, các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ. Con chim bay về phía Ðông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về phía Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian. Nếu con chim thấy bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim không thấy bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền". Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đã tìm cho đến Phạm thiên giới mà không gặp được câu trả lời cho câu hỏi ấy, nên nay trở về với Ta.

    Này Tỷ-kheo, câu hỏi không nên hỏi như sau: "Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng ấy - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?". Này Tỷ-kheo, câu hỏi phải nói như sau:

    "Chỗ nào mà địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, dài ngắn, tế, thô, tịnh, bất tịnh không có chân đứng? Chỗ nào cả danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn?" và đây là câu trả lời cho câu hỏi này:

    "Thức là không thể thấy, vô biên, biến thông hết thảy xứ .

    -->> Ở đây, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng.
    - Kinh Trường Bộ I, Kinh Kiên Cố


    B. CHƠN NHƯ TRỐNG RỖNG: Vì không có chỗ ĐẶT TAY

    Một hôm, đệ tử nhập thất là Đa Bảo hỏi: "Thế nào là chung thủy của sự học đạo".

    Sư đáp: "Thủy chung không vật, diệu hư không. Hiểu được chân hư, thể tự đồng"5.


    Bảo tiếp: "Làm sao đảm bảo được?"

    Sư đáp: "Không có chỗ cho người xuống tay."

    Bảo nói: "Hòa thượng nói xong rồi."

    Sư lại hỏi: "Ngươi hiểu gì."

    Bảo bèn hét lên. - Khuông Việt


    *** Vạn Pháp Vô Ngã .. không có chỗ xuống tay: một tiếng thét vang lên "trong cái TRỐNG RỖNG".


    C. Trong Sống Chết: NẮM ĐƯỢC CÁI TRỐNG RỖNG

    Thiền Sư Vân Phong của chùa Khai Quốc, cao đồ của thiền sư Thiện Hội cũng cùng ngài có một đoạn pháp ngữ thiệt là hay.


    Thiện Hội có lần bảo Sư: Sống chết là việc lớn, cần phải giải quyết ngay.

    Sư hỏi: Khi sống chết đến, làm sao tránh khỏi?

    Hội đáp: Hãy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh. [smile]

    Sư hỏi: Thế nào là chỗ không sống chết?

    Hội đáp: Ngay trong sống chết nắm lấy nó mới được.

    Sư hỏi: Làm sao mà hiểu?

    Hội đáp: Ngươi hãy đi, chiều nay sẽ đến.

    Chiều Sư lại vào, như đã hẹn, Hội bảo: Đợi đến sáng mai đông đủ, sẽ chứng minh cho ngươi.

    Sư tỉnh ngộ, liền sụp lạy.

    Hội hỏi: Ngươi thấy đạo lý gì?

    Sư thưa: Con đã lĩnh hội.

    Hội hỏi: Ngươi hiểu như thế nào?.

    Sư đưa nắm tay lên, thưa: Bất tiếu [3] là cái này đây.


    *** Đoạn này giống với đoạn đứng ở vị trí khi hai luồng tập khí thuận nghịch xuất hiện trong kinh Thủ Lăng Nghiêm quá thày. [smile]

    ** nhưng mà cái đoạn chiều nay đến hay quá, vừa mới nói là CHỖ SỐNG CHẾT cần giải quyết ngay mà lại mua thêm thời gian, hẹn đến chiều nay: thiệt là khéo léo tuyệt vời.

    KLL

       


  6. The Following User Says Thank You to khuclunglinh For This Useful Post:

    vienquang6 (15-02-2018)

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 9 của 9 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 4 5 6 7 8 9

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Similar Threads

  1. Trả lời: 22
    Bài viết cuối: 06-10-2017, 06:30 AM
  2. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 17-08-2012, 11:12 AM
  3. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 09-06-2011, 07:43 AM

Members who have read this thread : 19

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình