|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 33 của 33 Đầu tiênĐầu tiên ... 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33
Kết quả 97 đến 99 của 99

Chủ đề: Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 20, 21 22

  1. #97
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    5,315
    Credits
    5,926
    24
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần
    Thanks
    1,635
    Thanked 1,559 Times in 1,035 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 22 QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG BỒ TÁT

    * Đại Thường.

    Đại Thường là sự thường trụ vĩnh hằng vô thỉ vô chung của Pháp Thân Như Lai. sự Thường Trụ đó

    "Thọ lượng vô biên, thụ cùng tam tế,

    Quang minh hữu tượng, hoành biến thập phương."

    (Thọ lượng không ngằn mé, theo chiều dọc tột cùng ba đời,

    Quang minh hiện hình ảnh, theo chiều ngang trọn khắp mười phương)"

    Như bài kinh:

    Kinh văn: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh vô lậu pháp của Như Lai, phàm phu, Thanh Văn, Duyên giác thấy biết điên đảo, không được gọi là chánh trực.

    Hàng Thanh Văn, Duyên giác đối với bát tướng thành đạo của Phật họ thấy: Bồ tát từ trời Đâu Suất hóa hiện ngự trên bạch tượng giáng trần vào thai mẹ tại thành Ca Tỳ La. Cha hiệu là Tịnh Phạn, mẹ là Ma Da. Ở thai đủ mười tháng sanh ra. Lúc sanh ra chân chưa đến đất thiên đế đưa tay đỡ. Nan Đà Long Vương, Bạt Nan Đà Long Vương phun nước tắm...Đại thần vương Ma Ni Bạt Đà cầm lọng báu đứng hầu phía sau. Địa thần hóa hoa sen đở chân. Bồ tát đi qua bốn phương đều bảy bước. Lúc đến thiên miếu các thiên tượng đều đứng dậy tiếp nghinh. Tiên A Tư Đà hai tay bồng xem tướng.

    Xem xong tiên nhơn buồn khổ, thương phận mình sắp chết chẳng được thấy ngày Bồ tát thành Phật. Lớn lên đến thầy học sách sử, học toán số, học bắn cung, cởi ngựa, binh thơ, đồ sấm các nghề nghiệp. Ở trong thâm cung vui cùng sáu muôn thể nữ. Ra ngoài thành dạo chơi đến vườn Ca Tỳ La. Dọc đường gặp người già, người bệnh, người chết và gặp thầy Sa môn mặc pháp phục đi bên đường. Khi trở về cung thấy các thể nữ hình mạo như đảy đựng thịt xương, xem cung điện chẳng hơn bãi tha ma, mồ mả. Nhàm chán cảnh mong manh tạm bợ...nửa đêm vượt thành xuất gia, đến chỗ các đại tiên nhơn Uất Đà Dà, A La La...nghe giảng nói về "thức vô biên xứ" và "phi tưởng phi phi tưởng xứ". Nghe rồi tư duy quán chiếu, Bồ tát biết những pháp đó chưa ra khỏi sự chi phối của vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh, và...chưa ra khỏi cái vòng lẩn quẩn của sanh tử khổ đau ! Rồi Bồ tát bỏ nơi đó mà đi. Đến Tuyết Sơn, ngồi dưới cội cây tu khổ hạnh sáu năm. Sau đó, biết khổ hạnh không phải chánh nhơn để được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bồ tát bèn đến sông A nậu bạt đề (Ni liên) tắm rửa. Sau đó thọ nhận bát sửa của cô gái chăn bò cúng dường. Ăn xong tinh thần sảng khoái, sinh lực vượng hồi, đi đến cội cây Tất bát la trải cỏ an nhiên tĩnh tọa...cho đến ngày nọ vào lúc minh tinh xuất hiện, đại phá ma quân, được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Rồi trước hết, đến thành Ba la nại, chuyển pháp luân...và rốt sau, tuổi già sức yếu bèn đến thành Câu thi na này mà nhập Niết bàn. Những điều thấy biết như vậy gọi là chỗ thấy biết không trung thực của hàng Thanh Văn, Duyên Giác.

    Này Thiện nam tử ! Đại Bồ tát nghe và lãnh thọ kinh Đại Niết Bàn này thì dứt trừ được những điều thấy biết như vậy. Nếu biên chép, đọc tụng, tư duy, rồi vì người diễn thuyết thì được trí tuệ chánh trực không tà vạy.

    Này Thiện nam tử ! Đại Bồ tát tu hành theo kinh Đại Niết bàn, biết rõ: vô lượng kiếp nhẫn nay, Bồ tát không từ trời Đâu suất giáng trần vào thai mẹ…nhẫn đến trụ ở thành Câu thi na, rừng Ta la song thọ nhập Niết bàn. Đấy mới là chỗ thấy biết chánh trực của Đại Bồ tát
    .
    Nhận ra được Pháp Thân Như Lai Đại Thường Trụ. Chư Tổ có làm bài kệ:

    Ngã kim quán mộc chư Như Lai
    Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ
    Ngũ trược chúng sanh tịnh ly cấu
    Đồng chứng Như Lai tịnh Pháp thân
    Tỳ Gia thành lý vị tằng sanh
    Sa La thọ gian vị tằng diệt
    Bất sanh bất diệt lão Cồ Đàm
    Nhãn trung khán kiến trùng thiên tiết
    Kim triêu chính thị tứ ngoạt bát
    Tịnh Phạn vương cung sanh Tất Đạt
    Cửu long phúng thủy thiên ngoại lai
    Bỗng túc Liên Hoa tùng địa phát .

    Án mâu ni, mâu ni, tam mâu ni, tát phạ ha.


    Việt ngữ:

    Kệ Tắm Phật
    Con nay tắm gội đức Như Lai
    Trí sạch trang nghiêm, phước sâu dày
    Khiến các chúng sinh trong năm trược
    Chứng pháp thân Phật, sạch trần ai.
    ***
    Phật chẳng từng sanh ở Ca-tỳ
    Chưa từng nhập diệt nước Câu-thi
    Pháp thân sao thấy còn sinh diệt?
    Bụi vướng vào tròng, phải lấy đi!
    ***
    Tháng tư mùng tám, sáng đẹp tươi
    Thái tử Đạt-đa mới ra đời
    Rồng đến đón mừng phun nước tắm
    Sen nở nâng theo mỗi bước Người!


    Án mâu ni, mâu ni, tam mâu ni, tát phạ ha

       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  2. #98
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    5,315
    Credits
    5,926
    24
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần
    Thanks
    1,635
    Thanked 1,559 Times in 1,035 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 22 QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG BỒ TÁT

    * Đại Tịnh.

    Là Bản chất Thanh tịnh Bản nhiên của Đại Niết bàn, là Nghĩa Như của các pháp.

    Sao là "Nghĩa Như của các Pháp" ?

    Kinh Kim Cang Bát Nhã dạy: "Như Lai giả, thị chư pháp Như nghĩa" (Như Lai là nghĩa Như của các pháp)

    Trong kinh Kim Cương, Như Lai được quan niệm không phải là một con người cụ thể với sắc thân đầy đủ “ba mươi hai tướng quý, tám mươi vẻ đẹp” như ta hằng biết đến, mà đó là khái niệm được dùng để chỉ một thực tại siêu việt mọi tướng trạng - cái mà bản kinh này gọi là “thực tại phi tướng”. Nguyên ngữ tiếng Phạn của khái niệm này là Tathagata, dịch sang tiếng Trung Hoa là Như Lai. Kinh Kim Cương định nghĩa về khái niệm này như sau: “Như Lai là một thực tại như thế, không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu” (Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai)(1), hoặc “Như Lai là chân như của vạn pháp” (Như Lai giả, thị chư pháp như nghĩa”(2). Theo D.T. Suzuki, Như Lai chính là cái Như như của vạn pháp, nó vận hành một cách phổ quát trong các sự vật. Cái Như như này “vốn không được sinh ra và không sinh ra, lúc nào cũng vẫn như thế mà không mất đi cái căn bản tuyệt đối của nó, dù nó hiện diện và hoạt động trong tất cả mọi vật”(3).
    https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=525619
    Như các phần trước, chúng ta đã quán Bản Thể các Pháp là NHƯ, hiện tượng các Pháp là THỊ.

    + Tất cả hiện tượng đều giả huyễn không thật, gọi là Không có Tự tánh.

    + Tất cả Chân Tướng của vạn pháp là CHÂN NHƯ, nên là "Rốt ráo thanh tịnh".

    TỊNH là thực nghĩa của PHÁP.

    như bài kinh Bát Nhã sau đây:

    Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Bát nhã Ba- la- mật là rốt ráo thanh tịnh chăng ?

    ....... Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Vì sắc... dẫn đến thức rốt ráo thanh tịnh nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Vì sao sắc... dẫn đến thức rốt ráo thanh tịnh nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh ?

    ....... Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Nếu sắc... dẫn đến thức chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, thì gọi là sắc... dẫn đến thức rốt ráo thanh tịnh. Sắc... dẫn đến thức rốt ráo thanh tịnh nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Lại nữa, Này Tu Bồ Đề ! Vì hư không rốt ráo thanh tịnh nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Vì sao hư không rốt ráo thanh tịnh, nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh ?

    ....... Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Vì hư không chẳng sanh, chẳng diệt, nên là rốt ráo thanh tịnh. Hư không rốt ráo thanh tịnh, nên Bát nhã Ba- la- mật cũng rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Lại nữa, Này Tu Bồ Đề ! Vì sắc... dẫn đến thức chẳng nhiễm ô, nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Vì sao sắc... dẫn đến thức chẳng nhiễm ô, nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh ?

    ....... Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Cũng như hư không chẳng nhiễm ô, sắc... dẫn đến thức chẳng nhiễm ô là rốt ráo thanh tịnh. Hư không rốt ráo thanh tịnh, nên Bát nhã Ba- la- mật cũng rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Vì sao hư không chẳng nhiễm ô nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh ?

    ....... Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Vì hư không bất khả thủ (chẳng thể nắm bắt được), nên là rốt ráo thanh tịnh. Hư không rốt ráo thanh tịnh, nên Bát nhã Ba- la- mật cũng rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Lại nữa, Này Tu Bồ Đề ! Vì hư không bất khả thuyết (chẳng thể nói ra được), nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Vì sao hư không bất khả thuyết nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh ?

    ....... Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Vì hư không chỉ là danh tự, nên là bất khả thuyết. Hư không bất khả thuyết là rốt ráo thanh tịnh nên Bát nhã Ba- la- mật cũng rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Lại nữa, Này Tu Bồ Đề ! Vì hư không bất khả đắc (chẳng thể được), nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Vì sao hư không bất khả đắc nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh ?

    ....... Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Vì hư không chẳng có tướng đắc nên là bất khả đắc. Hư không bất khả đắc là rốt ráo thanh tịnh, nên Bát nhã Ba- la- mật cũng rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Lại nữa, Này Tu Bồ Đề ! Vì hết thảy các pháp đều chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng tăng, chẳng giảm, nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh.

    ....... Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Vì sao hết thảy các pháp đều chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng tăng, chẳng giảm, nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh ?

    ....... Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Hết thảy các pháp đều chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng tăng, chẳng giảm, là rốt ráo thanh tịnh, nên Bát nhã Ba- la- mật rốt ráo thanh tịnh
    .
    Ngộ Tánh Luận. Tổ Đạt Ma dạy:

    V. Loạn Và Định Đều Rời

    - Xả thân chẳng tiếc là đại bố thí.
    - Rời hẳn động và tịnh là đại tọa thiền.
    - Phàm phu chuyên động.
    - Nhị thừa chuyên tịnh.
    - Rời động và tịnh hơn hẳn phàm phu và Nhị thừa nên gọi là đại tọa thiền.
    - Hiểu được ý này thì biết được tất cả pháp, thì lành được tất cả bệnh, là năng lực đại thiền định.


    Năng lực Đại Thiền định, là Đại tịnh đó vậy.

    Tất cả các Pháp rốt ráo thanh tịnh (Thanh tịnh bản nhiên).- Vậy nên nói: TỊNH là thực nghĩa của PHÁP.

    Đây là nghĩa Đại tịnh, đức của Đại niết Bàn.

       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  3. #99
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    5,315
    Credits
    5,926
    24
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần
    Thanks
    1,635
    Thanked 1,559 Times in 1,035 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 22 QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG BỒ TÁT

    * Đại Tịnh (tt).

    Kinh văn: Này Thiện nam tử ! Do vì thuần thanh tịnh nên gọi Đại Niết bàn. Thuần tịnh có bốn thứ:

    Một, Thuần thanh tịnh. Do lột sạch hết nhơn và quả, bất tịnh trong hai mươi lăm cõi, còn lại cái thể sáng trong thuần tịnh, gọi đó là Niết bàn. Vì vậy, Niết bàn cũng được gọi là có, nhưng thực ra Niết bàn chẳng phải là có. Như Lai thuận theo thế tục mà nói Niết bàn có. Ví như người đời chẳng phải chồng mà gọi là chồng; chẳng phải vợ mà gọi là vợ; chẳng phải chồng vợ mà gọi là chồng vợ…Cũng vậy, tùy thuận thế tục đế mà nói Như Lai có Đại Niết bàn.

    Hai, Nghiệp thanh tịnh. Phàm phu vì nghiệp không thanh tịnh nên không có Niết bàn. Như Lai nghiệp thanh tịnh nên có Niết bàn. Như Lai nghiệp thanh tịnh gọi là đại tịnh. Đại tịnh nên gọi Đại Niết bàn.

    Ba, Thân thanh tịnh. Thân vô thường gọi là bất tịnh. Thân Như Lai thường trụ nên gọi là đại tịnh. Đại tịnh tức là Đại Niết bàn.

    Bốn, Tâm thanh tịnh. Tâm có ác lậu gọi là bất tịnh. Tâm Phật vô lậu gọi là đại tịnh. Đại tịnh là tên gọi khác của Đại Niết bàn.

    Bồ tát tu hành kinh Đại Niết bàn như vậy gọi là Bồ tát thành tựu phần công đức thứ nhất.


    Trực chỉ:

    * NIẾT BÀN là gì ? Chữ NIẾT có nghĩa là KHÔNG. Chữ BÀN vô số nghĩa. Tất cả những gì hữu lậu, vô minh đen tối, phiền não khổ đau, bất bình, bất mãn, trói buộc thân tâm đều nhiếp thuộc vào nghĩa chữ BÀN. Ví dụ: NIẾT là không, BÀN là tham dục, sân nhuế, ngu si. KHÔNG tham dục, sân nhuế, ngu si là NIẾT BÀN.

    * Niết bàn và Đại Niết bàn khác ở điểm nào ? Thực ra Niết bàn không phải "cảnh giới" nào hay là "cái gì" cao xa hay hùng vĩ ở đâu đâu như quan niệm của những người giàu tưởng tượng, tưởng tượng sai lầm. Cứ theo định nghĩa của chữ Niết bàn thì Niết bàn ở khắp thế gian, hiện hữu tận cùng vũ trụ. Tất cả mọi người, ai cũng có thể kiến tạo cho mình một cảnh Niết bàn cho nên Niết bàn chỉ có một thứ y nhau. Không có thứ Niết bàn dành để ưu đãi cho bất cứ hạng người nào. Do nghĩa đó mà có Niết bàn và Đại Niết bàn.

    Phàm phu cũng có Niết bàn. Thanh văn, Duyên giác, những người này đều có được Niết bàn nhưng không gọi là ĐẠI, vì Niết bàn của những bậc này chưa cứu cánh viên mãn, vì chất lượng an vui của Niết bàn này có hơn kém khác nhau, tệ hại hơn nữa, lúc có, lúc không, khi sanh, khi diệt như Niết bàn của phàm phu chẳng hạn. Niết bàn Phật mới gọi là Đại. Niết bàn Phật là tự tánh thanh tịnh bản nhiên, hiện hữu, tồn tại vô thỉ vô chung, là Niết bàn vô thượng, gọi là ĐẠI NIẾT BÀN. Niết bàn Phật có những đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Đại Ngã, Đại Tự Tại, cho nên gọi là ĐẠI. Niết bàn của phàm phu, Thanh văn, Duyên giác và thập trụ Bồ tát không được những đức tánh ấy cho nên không được gọi là Đại Niết Bàn.

    Núi có núi nhỏ, núi lớn, sông có sông nhỏ, sông lớn…Niết bàn cũng có nhiều bậc như vậy.

    * Đại Niết bàn vô thượng của Như Lai, có tám đức nhiệm mầu bất khả tư nghì, trí của hàng Thanh văn Duyên giác không thể suy lường biết được. Những Bồ tát trồng sâu chủng tánh Đại thừa, có khả năng tư duy, quán chiếu nhận thức “lý pháp giới”, “vô vi pháp”, “chơn như thể”, “nhất chơn pháp giới”, “pháp thân Như Lai”, “nhất thiết tức nhất”, “chư pháp tương tức”, “nhất đa tương dung”, “trùng tùng duyên khởi"…có khả năng tư duy dường ấy mới nhận thấy rõ ý nghĩa thậm thâm vi diệu, bất khả tư nghì ĐẠI NIẾT BÀN của Thế tôn là vô thượng.

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 33 của 33 Đầu tiênĐầu tiên ... 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 3 users browsing this thread. (0 members and 3 guests)

     

Similar Threads

  1. Trả lời: 22
    Bài viết cuối: 06-10-2017, 05:30 AM
  2. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 17-08-2012, 10:12 AM
  3. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 09-06-2011, 06:43 AM

Members who have read this thread : 53

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình