|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 4 của 27 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 ... CuốiCuối
Kết quả 10 đến 12 của 81

Chủ đề: 4 Pháp Ấn

  1. #10
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,314
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,177
    Thanked 1,774 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định 4 Pháp Ấn

    Phần I.-

    * Thường Kiến và Vô Thường.

    Do bị Hành Uẩn sai sử nên con người sanh ra các kiến chấp sai lệch. Trong đó quan trọng nhất là Thường kiến và Đoạn kiến.

    + Kiến là gì ?

    - Sự cố chấp và bám víu là kiến.

    + sự cố chấp và bám víu là kiến là (có ý nghĩa) thế nào?

    - Sự cố chấp và bám víu về sắc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

    - Sự cố chấp và bám víu về thọ rằng: ‘Cái này là của tôi … về tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi … về các hành rằng: ‘Cái này là của tôi … về thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

    Mười tám cơ sở xâm nhập của kiến là gì?

    Kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, kiến (tạo nên) hiểm độc, kiến (tạo nên) mâu thuẫn, kiến (tạo nên) dao động, kiến (tạo nên) ràng buộc, kiến (tạo nên) xuyên suốt, kiến (tạo nên) áp chế, kiến (tạo nên) vướng bận, kiến (tạo nên) trói buộc, kiến (tạo nên) sa đọa, kiến (tạo nên) ngủ ngầm, kiến (tạo nên) thiêu đốt, kiến (tạo nên) thống khổ, kiến (tạo nên) khúc mắc, kiến (tạo nên) chấp thủ, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu.
    Đây là mười tám cơ sở xâm nhập của kiến.

    https://suttacentral.net/vn/ps1.2

    Đại Trí Độ Luận dạy: " Phật thuyết vô thường nhằm dạy chúng sanh đoạn các chấp về thường kiến"

    Thế nào là "Thường kiến" ? Thường kiến là kiến chấp cho rằng vạn vật là có thật, là thường hằng, con người có một linh hồn bất diệt, người chết rồi linh hồn bay ra khỏi thể xác, rồi lại tái sanh làm người v.v...

    Đại Luận Trí Độ dạy:

    Hạng người không trí huệ,
    Do chẳng rõ vô thường.
    Chấp sắc thân làm ngã,
    Có thật và kiên cố.
    Thân này chẳng tự tại,
    Do các duyên hợp sanh,
    Khi vô thường đã đến,
    Toàn thân đều hủy hoại,
    Thân này chẳng ai thọ,
    Tức là thân vô chủ.
    ......

    Chúng sanh và thế gian,
    Hết thảy đều vô thường,
    Núi cao cùng rừng rậm,
    Rồi cũng sẽ tán hoại.
    Sông sâu cùng biển lớn,
    Rồi cũng sẽ cạn khô,
    Đến trú xứ chư Thiên,
    Đến thời, cũng tự diệt.
    Vậy ở thế gian này,
    Chẳng có gì vĩnh cửu,
    Duy chỉ có Như Lai,
    Pháp thân thường bất động.



       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  2. #11
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,314
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,177
    Thanked 1,774 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định 4 Pháp Ấn

    Phần I.-

    * Nghĩa và Tướng của Vô Thường.

    vô thường có năm nghĩa: Một vô thường diệt mất. Hai vô thường xa nhau. Ba vô thường biến khác, hay hồi chuyển. Bốn vô thường hữu phần. Năm vô thường tự tánh.” Đây chính là hiện tượng giả hợp của sắc (đất, nước, gió, lửa) có được nhờ các nhân duyên, duyên nhau mà sinh khởi và biến dịch, còn mặt thật bản chất (tâm) của chúng là không vì sự hiện hữu của chúng là do duyên, nên bản chất của chúng là không và chúng có mặt khắp trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai).

    Như trong luận Du Già sư địa 18, Đ. 30, trang. 0378c đã nói: “Các hành vô thường là chỉ cho các hành kia vốn không, nhưng vì duyên sinh khởi nên hiện hữu (sinh), khi đã hiện hữu rồi thì phải biến diệt (tùy duyên)” Thật ra các hành ở đây như kinh trên đã nói thì chính là năm uẩn gồm có sắc và tâm (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Các hành này là vô thường biến đổi không chắc thật, không tồn tại, vĩnh cữu mà chúng luôn luôn biến dịch, có mặt khắp trong ba đời. Nhưng sự hiện hữu của chúng như luận Du Già đã nói là không. Vì vậy cho nên hành giả khi tu tập thì phải như luận A-tỳ-đạt-ma tập dị môn túc 16, Đ. 26, trang 0435b thì chúng ta phải siêng năng quán sát chúng trong khi tu tập để diệt trừ chấp ngả chấp phápmà hòan thành cứu cánh Niết-bàn tịch tĩnh trong hiện quán: “Hiện tại chúng ta nên siêng năng quán sát, các hành là vô thường, là hữu lậu, là khổ. Tất cả pháp là không, là vô ngã. Khi chúng ta nghĩ đến chúng như vậy rồi thì chúng ta sẽ siêng năng quán sát.”

    (Trích từ thư viện hoa sen)

    + Tướng của Vô thường là: THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG là SANH, TRỤ, DỊ DIỆT, là SANH, GIÀ, BỆNH, CHẾT.

       

    Last edited by vienquang6; 01-01-2018 at 08:09 PM.
    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  3. #12
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,314
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,177
    Thanked 1,774 Times in 1,188 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định 4 Pháp Ấn

    Phần I.-


    * Tu tưởng về Vô thường.

    Có người thấy được Vô Thường chẳng sanh nhàm chán mà trái lại còn cố bám víu các lạc thú ở trên cuộc đời này.

    Trong kinh có chép mẫu chuyện:

    Có một bà hoàng hậu ở một nước nọ chết sớm khiến vị vua sanh sầu, buồn khổ. Quần thần khuyên giải rằng :"Đại vương chớ buồn khổ nữa. Hoàng hậu trước khi sinh ra đời đã là KHÔNG, nay ngài chết đi cũng trở về KHÔNG vậy. Chẳng ai có thể thoát được cảnh chết cả".

    Nhà vua đáp :"Ta cũng biết như vậy nhưng ta chỉ lo thời gian trôi qua nhanh quá rồi đây tuổi trẻ cũng sẽ từ bỏ ta".

    Như vậy là có người biết Vô Thường lại càng sanh thêm nhiều kiết sử nữa. Vì sao nói :"Biết được Vô Thường sẽ sanh nhàm chán; biết được Vô Thường sẽ trừ được các kiết sử ?"

    Đáp:Biết rõ lý Vô thường chưa đủ. Phật dạy :"Muốn thể nhập lý Vô Thường phải tu tưởng về Vô Thường".

    Hỏi:Thế nào là "Tu tưởng về Vô Thường" ?

    Đáp:Tu tưởng về Vô Thường là tu quán các pháp hữu vi đều niệm niệm sanh diệt, như gió thổi bụi trần, như nước tuôn xuống dốc. Lại quán các pháp hữu vi đều là như huyễn, như hóa, chẳng bao lâu sẽ tán hoại.

    Quán như vậy là vào được cửa KHÔNG, là được Vô Sở Đắc.

    (Trích ĐTĐL)

    Vô thường, anitya hoặc anityatā, có nghĩa là tất cả các pháp hữu vi ở thế gian không có gì tồn tại mãi mãi, cái gì cũng thay đổi, biến hóa, sanh diệt không dừng. Tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên mà sanh và đều có bốn tướng trạng: sanh, trụ, dị, diệt, gọi là tứ tướng vô thường. Bốn tướng này sanh diệt trong từng sát-na, sanh đó liền diệt đó.
    Luận Đại trí độ, quyển 43, nói vô thường có hai loại, là niệm niệm vô thường và tương tục vô thường.
    - Niệm niệm vô thường: Trong mỗi niệm, trong mỗi sát-na, các pháp hữu vi trải qua bốn tướng trạng sanh, trụ, dị, diệt; niệm này vừa sanh liền diệt, vừa diệt liền sanh, liên tục không gián đoạn.
    - Tương tục vô thường: Vô thường tiếp nối vô thường tạo thành một dòng chảy vô thường tương tục: sanh, trụ, dị, diệt, rồi lại sanh, trụ, dị, diệt…
    Luận Biện trung biên, quyển trung, phân tích vô thường thành ba loại: vô tính vô thường, sanh diệt vô thường và cấu tịnh vô thường.
    - Vô tính vô thường: Còn gọi là vô vật vô thường. Tính biến kế sở chấp (các pháp vốn không có tự tính, do chúng sanh suy diễn, vọng tưởng [biến kế] rồi chấp vào đó mà cho là có tự tính), vì tính của nó là thường Không. Thành duy thức luận thuật ký giải thích: Vì thể tính thường không, tức là cái tính ban đầu, mà luậnBiện trung biên gọi là Vô hữu vật (không có vật gì cả), thật sự thì không có gì vô thường cả (vì không có vật thì làm gì có vật vô thường?), cho nên nói các hành vô thường chỉ là một cách nói tạm thời.
    - Sanh diệt vô thường: Còn gọi là khởi tận vô thường. Các pháp nương vào nhau mà sanh khởi, nương vào cái khác mà sinh khởi (y tha khởi), tức là đều do duyên mà sanh, cho nên nó cũng sẽ do duyên mà diệt tận, vì vậy mà gọi là sanh diệt vô thường.
    - Cấu tịnh vô thường: Còn gọi là hữu cấu vô cấu vô thường. Các pháp viên thành thật cũng chuyển biến vô thường, bản chất của nó không có dơ hay sạch. Nếu ở trong dòng sanh tử mà nói thì gọi là dơ, nếu cắt đứt dòng sanh tử rồi thì gọi là tịnh, cho nên cấu hay tịnh đều vô thường.
    Ngoài ra, luận Thuận trung, quyển hạ, cũng nói vô thường có ba loại là niệm niệm hoại diệt vô thường, hòa hợp ly tán vô thường và tất cánh như thị vô thường. Đại thừa nghĩa chương, ở quyển 2 và quyển 18 cũng đề xuất ba loại vô thường là phân đoạn vô thường, niệm vô thường và tự tánh bất thành vô thường. Về mặt tên gọi vô thường trong hai bộ luận vừa nêu khác nhau nhưng ý nghĩa thì tương đồng.
    Luận Hiển dương thánh giáo, quyển 14 thì đề xuất sáu loại và tám loại vô thường. Sáu loại vô thường là:
    a) Vô tính vô thường: Nghĩa là tất cả các pháp tính vốn không, là tính biến kế, chứ không phải thật có, như hoa đốm giữa hư không, tính của nó là thường không (thường không có thật).
    b) Thất hoại vô thường: Các pháp đều hoại diệt và biến mất vô thường.
    c) Chuyển dị vô thường: Chuyển dị là thay đổi thành cái khác, biến thành cái khác. Các pháp thường đổi khác như thế, giống như đứa bé trong bào thai luôn chuyển đổi trong suốt mười tháng hoài thai thì mới lớn lên thành người được.
    d) Biệt ly vô thường: Có hợp có tan.
    e) Đắc vô thường: Hiện tại thọ cái quả vô thường là do cái nhân vô thường đã tạo.
    f) Đương hữu vô thường: Các pháp đang hiện hữu nhưng thực chất đang chuyển hóa liên tục qua bốn tướng trạng thành, trụ, hoại, không.
    Tám loại vô thường là: 1. Sát-na vô thường, 2. Tương tục vô thường, 3. Bệnh vô thường, 4. Lão vô thường, 5. Tử vô thường, 6. Tâm vô thường, 7. Khí vô thường, 8. Thọ dụng vô thường. Trong đó, sát-na và tương tục là hai loại vô thường có mặt khắp mọi nơi; bệnh, lão, tử là ba loại vô thường ở nơi sắc thân; tâm vô thường là chỉ cho tâm thức luôn thay đổi; khí và thọ dụng là hai loại vô thường ở nơi sắc bên ngoài thân.
    Liên quan đến tướng trạng vô thường, các kinh luận phần nhiều dùng những hình ảnh để diễn tả, như kinhKim cương bát-nhã, dùng hình ảnh giấc mộng, ảo thuật, bọt nước, cái bóng, hạt sương, tia lửa điện để thuyết minh tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, không thật.
    Đại tạng pháp số, quyển 46, thì căn cứ vào Tông cảnh lục liệt kê tám thí dụ là nước xuôi về đông, mặt trời xế bóng, chớp lòe đá lửa, bóng câu qua khe cửa, đèn chong trước gió, sương đầu ngọn cỏ, cây khô vách núi, chớp lòe trước mắt để chỉ tính chất vô thường của các pháp.
    A-tỳ-đạt-ma tạp luận, quyển 6, cũng nêu các tướng trạng vô thường, tóm lược có 12 loại, đó là tướng không có thật, tướng hoại diệt, tướng biến dị, tướng biệt ly, tướng hiện tại, tướng tự nhiên, tướng sát-na, tướng tương tục, tướng bệnh yếu, tướng tâm hành mỗi mỗi thay đổi, tướng hưng suy, tướng thế gian thành rồi hoại.
    Ngày nay, khoa học tự nhiên dường như đã làm sáng tỏ thêm khái niệm vô thường của Phật giáo. Hồi trước, người ta cho rằng, nguyên tử, đơn vị vật chất nhỏ nhất, là bất biến, không thay đổi; nhưng ngày nay người ta đã chứng minh được nguyên tử cũng thay đổi, không phải là bất biến, và cũng không phải là vật chất nhỏ nhất. Bên trong hạt nguyên tử còn có điện tử, trung tử… chúng có thể tính luôn luôn vận động kết hợp mà thành. Vật chất nhỏ bé nhất có thể nói là lạp tử, nhưng lạp tử cũng không phải là một vật chất cố định, bất biến; nó cũng thường xuyên biến hóa. Những khám phá mới của khoa học này ngày nay ai cũng biết. Vật chất hình thành từ những nguyên tử phức hợp, từ vật chất nhỏ nhất cho đến vật chất cực lớn như thiên thể vũ trụ, đều hình thành từ những hạt cơ bản có tính chất vật lý, hóa học biến hóa không dừng. Sự khám phá khoa học này đã thêm một lần nữa chứng minh giáo lý ‘chư hành vô thường’ của Phật giáo luôn là chân lý.
    Tuy nhiên, Phật giáo không dựa vào khoa học để tồn tại! Phật giáo nhận thức các pháp vô thường không phải bằng phương pháp phân tích của khoa học mà bằng thực nghiệm hiện lượng hay trực giác chứng ngộ.

    (Trích Thư viện hoa sen)

    Không chỉ là hiểu biết suông. Mà thường tư duy, quán chiếu như vậy.- Đó là "Tu tưởng về Vô thường"


       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 4 của 27 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 ... CuốiCuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Members who have read this thread : 71

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình