|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 21 của 21 Đầu tiênĐầu tiên ... 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
Kết quả 61 đến 63 của 63

Chủ đề: 4 Pháp Ấn

  1. #61
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    5,181
    Credits
    5,926
    23
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần
    Thanks
    1,565
    Thanked 1,514 Times in 1,003 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định 4 Pháp Ấn

    Phần IV

    * Bản thể (Chân Như).


    Một trong các ý nghĩa quan trọng của Chân Như là "Bản Thể".

    Bản Thể là gì ?

    Trích: VŨ TRỤ VẠN HỮU BẢN THỂ LUẬN

    (Lời đầu của luận giả )

    Không gian vô biên khắp cả mười phương là vũ, thời gian vô cùng tận quá khứ, hiện tại và vị lai là trụ.

    Hữu vi, vô vi, sắc tâm, nhiễm tịnh, tất cả vạn pháp đều gọi là vạn hữu.

    Tất cả vạn pháp từ xưa cho tới nay tịch diệt vắng lặng, vốn không sanh diệt, tồn tại không lay chuyển, cùng một thể với hư không trong mọi thời, cùng một chân như pháp tánh, cái đó gọi là bản thể.

    Vạn hữu từ tướng trạng mà nói; bản thể từ phương diện lý tánh mà nói, cũng gọi là thật tướng của chư pháp.

    Chúng ta ai cũng sẳn có tánh giác ngộ vắng lặng viên dung, linh hoạt thông suốt, chẳng mê chẳng lầm, vô danh vô tướng. Mọi người đều có đủ thể tính bản giác, cho đến đại thể vũ trụ vạn hữu cũng vậy.

    Do mê chân tìm cái vọng (chân là chân tướng, chân lý, chân như, chân không, chân thật, chân tế, chân giác, chân tính, chân trí, thánh trí, thật trí, thật tế, thật tướng, thật tánh, pháp tánh, pháp giới, bản 22 TỤÊ QUÁN NẺO VỀ CHÂN NHƯ thể, nhất thể, nhất như, nhất vị, nhất tướng, không tướng, Niết-bàn, bình đẳng, cứu cánh).

    Vọng là tướng hư dối, là bị ô nhiễm bởi sáu trần. Từ đó chịu chìm đắm trong vòng sanh tử.

    Đức Thế Tôn vì muốn chúng sanh ngộ nhập trí tuệ chân thật nên thị hiện trong thế giới Ta bà, lao nhọc bốn mươi chín năm tuyên dương Chánh pháp, khai mở quyền thật, tùy căn cơ trình độ mà giáo hóa. Chính là muốn chúng sanh lìa xa huyễn hóa, dẹp bỏ cấu nhiễm, diệt hết phiền não, phá hết vọng chấp, giác ngộ tự tâm, trở về bản thể thanh tịnh vốn có.

    Ba tạng kinh điển, năm thời giáo pháp, chính là phương tiện dạy đạo.

    Từ các phương tiện quyền xảo, khiến người giải hết mê hoặc và trói buộc, dần dần ngộ được bản thể tự tánh.
    Bài luận trên đã diễn tả bao quát về ý nghĩa "Bản thể".

    Có một số ý nghĩa về Bản thể "phi Phật giáo" mà ở bài này không hướng đến, như:

    + Có trường phái hiểu Bản thể là nguyên cội gốc nó là cái gì đó !

    - Như có người cho rằng Bản thể nó là Tiểu ngã do Đại Ngã sanh.

    - Như có người cho rằng Bản thể nó là do Thượng Đế sanh.

    - Như có người cho rằng Bản thể nó là đất, nước, gió, lửa sanh.

    - Như có người cho rằng Bản thể nó là hư vô.

    - Như có người cho rằng Bản thể nó là do súc sanh sanh.

    - v.v...

    theo Aristotle: bản thể là một hữu thể độc lập và duy nhất luôn có sự hiện hữu của cả chất thể lẫn hình thể.- Định nghĩa về Triết học này cũng không nằm trong phạm trù Bản Thể- Chân Như của Phật giáo.

    Bản-thể-của-Phật còn gọi là Như Lai Tạng, Phật Tính, Pháp Giới, Chân Như... (tiếng Phạn là Tathagatagarbha), là một khái niệm quan trọng của Đại Thừa Phật Giáo. Tathagatagarbha được ghép từ hai chữ Tathagata và garbha: Tathagata có nghĩa là như thế, Đức Phật thường tự xưng mình chỉ là như thế, hiện ra nơi đây là như thế, dịch ra tiếng Hán là Như Lai; chữ garbha có nghĩa từ chương là "nguyên nhân" hay "bên trong" (của một thứ gì đó)..., tiếng Hán dịch là chủng tử.
    https://thuvienhoasen.org/a16449/ban-the-cua-phat
    Có một người đệ tử hỏi Thầy mình như sau: "Thế con có hàm chứa bản-thể-của-Phật hay không?".

    Vị Thầy tức khắc trả lời ngay: "Không, mi không hề hàm chứa bản-thể-của-Phật".

    Người đệ tử hỏi vặn lại: "Con nghe nói rằng tất cả mọi thứ đều hàm chứa bản-thể-của-Phật kia mà... Tại sao con lại không có?"

    Vị Thầy lại trả lời tiếp như sau: "Côn trùng, súc vật, đất đá..., tất cả đều hàm chứa bản-thể-của-Phật - chỉ trừ có mi là không có".

    Người đệ tử tỏ vẻ lo lâu: "Thế thì tại sao con lại không có?"

    Vị Thầy bèn giải thích như sau: "Chỉ vì mi đã nêu lên câu hỏi" (nêu lên thắc mắc trong đầu là cách tự tách rời mình ra khỏi sự thắc mắc của chính mình, tức là tự tạo ra chủ thể và đối tượng, nói cách khác là tự tách rời mình ra khỏi hiện thực).

    Thắc mắc của người đệ tử đã cho thấy rằng người ấy không thấu triệt được một cách thật ý thức rằng chính mình đang hàm chứa sẵn Bản-thể-của-Phật (vì cứ tưởng rằng bản-thể-của-Phật là một thứ gì đó khác với mình).


       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  2. The Following User Says Thank You to vienquang6 For This Useful Post:

    khuclunglinh (13-02-2018)

  3. #62
    Điều Hành Viên khuclunglinh is on a distinguished road
    Ngày tham gia
    Dec 2017
    Giới tính
    Chưa chọn Giới Tính
    Bài viết
    384
    Credits
    23,469
    9
    Professional
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    233
    Thanked 102 Times in 93 Posts
    Rep Power
    1

    Mặc định

    Kính Thày VQ:

    Có một lần coi băng Thúy NGa nghe được một bài hát của nhạc sĩ Nhật Trung: Một Đời Tôi Đi Tìm Tôi. Lời lẽ của bài hát ấy, thật là chân thành, mộc mạc, nhưng cũng là lý lẽ sống chung và gần gũi với tất cả mọi người:

    một đời tôi đi tìm tôi

    một đời tôi đi tìm em

    tìm đâu thấy

    trọn giấc mơ tôi hoài mong

    Đã là người thì ai cũng không ít lần phải trải qua những thăng trầm trong cuộc sống: buồn vui, sướng khổ, được mất, biển đổi .. và con người luôn phải tự mình đi vào với những biến cố ấy với chính tâm của mình. Và cũng không ít lần, có lẽ, chắc ai trong chúng ta cũng phải công nhận: là đối diện với biến cố ấy, nỗi khổ ấy, chúng ta không biết ĐÂU MỚI LÀ NƠI BẮT ĐẦU ? .. và TA PHẢI LÀM GÌ với tâm của mình ? và Tâm của Ta có là gì để mà ta sử dụng ?

    Câu trả lời này đã được đức Phật Thích Ca trả lời từ mấy ngàn năm trước. Bằng phương pháp quán sát những hoạt động tâm lý và vật chất của con người, ngài khám phá ra một số nhân tố cụ thể và luôn luôn xuất hiện như là một mẫu số chung của tâm con người khi đối diện với những biến cố trong đời sống, và những nhân tố cụ thể đó sau này được định nghĩa là NHƯ LAI TẠNG.

    Có lẽ, vì đây là khám phá riêng và độc đáo của phật môn, nên hầu như chỉ có hàng đệ tử chân chính của ngài mới hiểu được và biết cách sử dụng những khám phá này của ngài.



    Trí Huyền Thiền Sư, trong một bài thơ đối đáp khi Từ Đạo Hạnh hỏi ngài về Chân Tâm có viết về những đặc tính của Chân Tâm Thường Trú này như sau:

    Ngọc lý bí thanh diễn diệu âm

    cá trung mãn mục lộ thiền tâm

    hà sa cảnh thị bồ đề đạo

    nghĩ hướng bồ đề cách vạn tầm

    *[ những âm thanh huyền bí trong viên ngọc phát ra là những âm thanh kỳ dị

    trong đó ý thiền hiện ra rành rành

    cảnh giới nhiều như cát bui đấy đều là cõi bồ đề

    nhưng nếu dụng tâm đi tìm thì sẽ xa vô cùng ]



    Bốn câu thơ không dài, nhưng trong đó đã chứa đựng nội dung tình yêu và trí tuệ của hiện tượng giác ngộ mà người bình thường không trải qua những thực nghiệm tâm, thực hành phạm hạnh để quán sát và tìm kiêm chơn tâm, chắc có lẽ khó có sự tình cờ nào có thể làm ra hiện tượng ấy. Và nều không có những vị tỳ kheo chân chính của ngài hướng dẫn bằng những lời trực chỉ tâm đắc như vậy, chắc cũng khó mà tự tìm ra [smile].

    - Tâm đứng ở vị trí nguồn gốc là Chơn Tâm sẽ thấy đại dụng của tâm. Diệu đức như hà sa thảy nơi nguồn tâm mà ra. - Đạo Tín

    - Tâm đứng ở vị trí tâm là Thức dù có suy nghĩ, suy tính cỡ nào vẫn xa CHƠN TÂM ấy, muôn trùng.

    Và đi đâu cũng vậy, lúc nào cũng vậy, chính cái LÝ nhin thấy VIÊN NGỌC làm lộ thiền tâm ấy chính là: TRỰC CHỈ CHƠN TÂM



    Thời nhà Đường bên Trung Quốc, đại hành Phật Đạo, ngay cả những cư sĩ tại gia cũng có người chứng được thiền cơ, nên cũng có một bài thơ hẳn ai nghe cũng sẽ thấy lạ lạ:

    Tằng kinh thương hải nan vi thuỷ,

    Trừ khước Vu Sơn bất thị vân.

    Thủ thứ hoa tùng lãn hồi cố,

    Bán duyên tu đạo, bán duyên quân.



    đã đi bốn biển rồi ... ta còn màng gì nước [vì nước không thiếu]

    đã thấy VU SƠN rồi ta còn màng gì mây [ vì mây cũng không thiếu]

    hoa đẹp cũng chẳng màng ngó lại [vì trong lòng đã có EM đẹp như hoa]

    Nửa vì TA đang tu,

    Nửa vì Ta đã có Em [tức là nửa vì đang là một người chồng ]


    Bài thơ này của nhà thơ Nguyên Chấn viết sau khi vợ ông đã qua đời. Nội dung của nó nói đến sự sung mãn của niềm vui: nước, mây, hoa trong nội tâm.

    Đối với số lượng đại dụng của Chơn Tâm: thì mỗi một thức mạng xảy ra trong đời như trăng trong nước, như hoa trong gương, như nhạn quá trương không, như vó ngựa bóng câu qua mành, hay như hiện tượng vạn pháp, hiện tượng hư không hoa, pháp hoa

    mà vị trí "TUYỆT ĐỐI" được tách rời ra khỏi vạn tâm thức chính là Chơn Tâm:

    - đứng ở vị trí NGUỒN GỐC, thì ĐẠI DỤNG của Tâm sẽ hóa muôn ngàn ... và dẫn tới sự SUNG MÃN của niềm vui trong nội tâm = SUNG MÃN HỶ [smile].


    KLL

       


  4. The Following User Says Thank You to khuclunglinh For This Useful Post:

    vienquang6 (13-02-2018)

  5. #63
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    5,181
    Credits
    5,926
    23
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 0 lần
    Thanks
    1,565
    Thanked 1,514 Times in 1,003 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định 4 Pháp Ấn

    Phần IV.

    * Chơn Không- Diệu Hữu.


    Chơn Không là cái "Không- Chơn Thật", Diệu Hữu là cái " Có -Diệu huyền".- Là một nghĩa khác của Chân Như.

    + Nếu nói - cái "Không - Chơn Thật", Diệu Hữu là cái " Có - Diệu huyền".- thì té ra có một cái "Không - giả tạo" và cái " Có - Phàm tục " ư ?

    - Đúng vậy.

    Trong văn học Bác Nhã của Nhà Phật

    - Từ ngữ "Sắc" nghĩa là Vật chất, là sắc tướng thường dùng lẫn lộn với từ ngữ "Hữu" nghĩa là Có.

    - Và từ ngữ "Không" chẳng những mang ý nghĩa đối lập với Có mà còn mang nhiều ý nghĩa tầng bậc khác nhau !

    Có 3 Tầng Bậc SẮC - KHÔNG:

    1. Sắc Không Đối Đải.
    2. Sắc Không Bất Dị.
    3. Sắc Không Tuyệt Đãi.

    1. Sắc Không Đối Đải. - Là đối với Phàm phu vô trí chỉ thấy Sắc (có) đối với Không (không có).- Đây là "cái thấy sai lầm" do ý thức vọng tưởng phân biệt theo Nhị Nguyên. Người tà kiến chấp Không, chỉ ngang nơi đây mà khởi chấp

    2. Sắc Không Bất Dị.- Là đối với người tu Quán Tánh không, thấy được Sắc và Không chẳng khác nhau. Vì Sắc do nhân duyên tụ - tán mà thành,thực Tướng là Không; mà Không cũng do nhân duyên tụ - tán mà thành, thực Tướng là Không.- Do bản chất chỉ có tụ - tán chớ không có Thật pháp,thực Tướng là Không. Nên Sắc chẳng khác Không ( Bất Dị) Sắc tức là Không.

    3. Sắc Không Tuyệt Đãi. Là Tự Tánh Không, là Chơn Không, là Bất Nhị Pháp, là Nhất tướng, là Vô tướng, là Niết Bàn Tướng... nơi đây bặt ngôn ngữ bặc suy lường . Không phải do suy luận mà thấy Không.- Đây là chỗ Tuyệt Đối Không, là Chân Như.

    * Hai Pháp Không là : Sắc Không Bất Dị, và Sắc Không Tuyệt Đãi, là 2 Pháp tu Quán Không, mà người tà kiến Chấp Không, chẳng thể có được.

    * Cái Không thứ 3, tức là Sắc Không Tuyệt Đãi. mới là Chơn Không mà ở đây giới thiệu.


    (còn tiếp)

       

    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 21 của 21 Đầu tiênĐầu tiên ... 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 2 users browsing this thread. (0 members and 2 guests)

     

Members who have read this thread : 52

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình