|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 1 của 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 3 của 28

Chủ đề: LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ Lược giải -Phẩm Tự-1.Lục chủng thành tựu

  1. #1
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,316
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,178
    Thanked 1,778 Times in 1,192 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ Lược giải -Phẩm Tự-1.Lục chủng thành tựu

    Nam Mô Long Thọ Tổ Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.

    Kính Bạch Chư Tôn Đức.
    Kính thưa Quý Đạo hữu ở Diễn Đàn .

    Đại Trí Độ Luận là một Bộ Luận lớn, do Bồ Tát Long Thọ tạo tác, nhầm tuyên bày giáo nghĩa thậm thâm vi diệu của pháp Đại Thừa và để giải thích Kinh Đại Bát nhã Ba la mật.

    Ở Việt Nam hiện nay có hai bộ được dịch từ Hán Văn sang Việt văn.
    + 1 bộ do Hòa Thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch.
    +1 bộ do Sư Bà Thích Nữ Diệu Không phiên dịch, cùng với Hòa Thượng Thích Thiện Trí và Cư sĩ Lê văn Lâm nhuận bút và biên tập.

    Trên nhiều diễn đàn internet,tôi thấy phần nhiều đã có bản dịch của HT Thích Thiện Siêu. Nhưng Bản dịch của Sư Bà TN Diệu Không thì chưa thấy .

    Bâng khuâng trong dạ. vì muốn giới thiệu đến các Bạn đồng tu bản dịch rất công phu và trong sáng này, nhưng lại ngại về vấn đề BẢN QUYỀN.

    Chợt một hôm tôi đọc bày "Lời nói đầu" của Sư Bà có đoạn : " Bằng tịnh tín tâm lực, tôi nguyện đem công đức phiên dịch này hồi hướng đến khắp pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật Đạo. "

    Tôi vui mừng vô hạn, vì nhận ra Sư Bà đã phổ thí Pháp Bảo này cho chúng sanh, thì dù cho tôi lạm dụng mà giới thiệu cho đại chúng, thiển nghĩ Sư Bà cũng sẽ tha thứ cho tôi.

    Có một hôm, để định hướng cho tâm nguyện hoằng thừa chí cả của Thầy Tổ, tôi có đến gặp Sư Phụ là Hòa Thượng Thích Thiện Trí, để hỏi về việc xin phép Sư Phụ mà trích xuất "tài nguyên" ở bày giảng Đại Trí Độ Luận.

    Tuy rằng chưa an tâm lắm về sức tu học của tôi, nhưng Hòa Thượng vẫn cho phép tôi nên nghe thêm cho kỹ và hãy bằng tâm huyết của mình mà trùng tuyên lại những gì đã học nơi Sư Phụ .

    Nay tôi quyết tâm nghe theo lời dạy của Hòa Thượng mà nương theo lời giảng Đại Trí Độ Luận của HT Thích Thiện Trí để chú thích, giới thiệu "Thiểu phần" Bản dịch ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không .

    Kính thưa Chư Thiện Hữu Tri Thức. Đây là việc làm vượt qua sức của Tôi, nên sẽ rất là thiếu sót và cạn cợt. Nên rất cần sự chỉ dạy và bổ túc .

    Kính mong được sự ủng hộ và khuyến khích của các bạn Đồng Tu.

    Nam Mô Hoan hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha tát.

    Ghi chú: Tôi dự định đăng bài này ở Tạng Luận, nhưng lại suy nghĩ, trong bài này vẫn có lời lẻ và sự suy nghĩ của Tôi là kẻ sơ học, (Phần chữ màu đỏ, và trong khung là phần chánh luận, phần chữ màu xanh, là mượn các nguồn nơi khác, Phần chữ màu đen viết chú giải và Tư duy, là những lời ngoài Luận, là tư ý của V/Q) nên đành để ở đây hầu hoàn chỉnh thêm.

    Lời Tựa

    Muôn sự muôn vật đều do sinh sinh mà được hình thành. Thế nhưng cội gốc của sinh sinh lại là vô sinh. Từ vô thỉ đến nay và mãi mãi về sau, tính vô sinh ấy vẫn thường bất động. Do duyên khởi biến hóa mà giả danh có các sự vật. Thật ra, tất cả các sự các vật đều là hư vọng, là không thật có, là vô tự tính. Phàm phu do chìm đắm trong mê muội, mà khởi các vọng chấp cho rằng các sự vật là thật có.
    Trong kinh A Hàm, Phật dạy rằng: “Các sự thấy nghe hay biết của chúng sinh đều do nhiễm trước nơi cảnh sở duyên mà có”. Chúng sinh do bị vô minh ngăn che tâm trí, nên khởi sinh các tà kiến chấp, vì vậy mà bị các pháp sai sử.
    Chỉ có trí huệ Bát Nhã mới làm tan biến được mà vô minh u ám, mới hiển bày được thật tướng của các pháp. Dùng trí huệ Bát Nhã soi chiếu đến tận gốc rễ sẽ liễu ngộ được lý siêu việt chân thường, dẫn đến chỗ tuyệt tư cảnh giới. Trái lại, nếu dùng danh tự ngôn ngữ mà diễn đạt thì sẽ trái với chỗ thậm thâm vi diệu; còn nếu dùng lý trí mà tư

    duy, thì sẽ mất đi chỗ y chỉ.
    Ở nơi Tam tạng Pháp Bảo, hàng Thanh Văn cũng không liễu tri đến chỗ thâm diệu; còn người tạp học thì phải chịu thúc thủ chẳng sao bước vào được cửa Không, chỉ ví như cá muốn hóa rồng, phí công mà chẳng sao được như nguyện, đành phơi mang trước cửa Long cung.
    Thật may mắn thay! Vào cuối thời Chánh pháp có ngài Mã Minh, và vào thời Tượng Pháp có ngài Long Thọ ra đời hoằng dương chánh pháp, chấn chỉnh di phong của Phật, làm sáng tỏ nghĩa kinh, quét sạch đám mây mù đen tối.
    Ngài Long Thọ thương xót chúng sinh ở nơi Tượng pháp và Mạt pháp, chẳng có thiện duyên thấu rõ đạo mầu, nên đã thị hiện thân phàm phu, nhằm khai ngộ và dẫn dắt chúng sinh dần dần vào chánh đạo. Ngài không ngại khó khăn tìm đến chốn Long cung sưu tầm huyền chỉ thậm thâm của Đức Thế Tôn. Do có trí huệ thuần thục, nên ngài thấu suốt cùng tột đến chỗ bí ẩn u huyền của những lời thâm diệu. Ngài làm ra bộ Thích luận này để khai ngõ vào Đại Thừa Phật pháp, làm quy củ dẫn thẳng vào thật tướng các pháp. Nhờ vậy mà các tà hoặc, các vong kiến đều bị quét sạch.
    Ở đầu bộ luận, ngài thành lập các câu hỏi khác nhau, rồi dùng lời lẽ mỹ diệu giải thích rõ ràng. Sau cùng dẫn đến chỗ vô chấp, là chỗ thâm diệu, tận thiện, tận mỹ.
    Nếu lời kinh quá súc tích, khó giải, khó hiểu, thì phần luận giải của Ngài với lời lẽ khúc chiết, với lối trình bày rõ

    ràng, cặn kẽ, khiến cho người tu học thấu triệt được ý nghĩa thâm sâu vi diệu chứa đựng trong lời dạy của Đức Bổn Sư. Chẳng ai có thể vấn mạn được nữa.
    Những câu hỏi nêu trên, những thí dụ đa dạng và phong phú đã khiến người tu học, muôn đời về sau được ngộ ý chỉ của Ngài.
    Bộ Thích luận này được Ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch ra Hán văn.
    Ngài La Thập thông minh xuất chúng, trí huệ tuyệt vời. Ngay từ nhỏ, Ngài đã thông minh kinh điển, thuyết pháp vô ngại. Ngài đọc trường tập này xong, hết lòng tán thán rằng: “Nếu sau này có được những tài năng lỗi lạc, có những luận biện ngôn từ mỹ diệu thì đó chính là nhờ nơi bộ luận này cả. Phải lấy bộ luận này làm gương mẫu, phải bằng vào những lý luận cao siêu ở nơi bộ luận này, mới mong thấy rõ được tâm tôn của Đức Thế Tôn.”
    Đến đời nhà Trần, niên hiệu Hoằng Thỉ thứ ba, tháng 12 ngày 20, bộ luận này mới được đem đến đất Trường An.
    Mặc dù vua nhà Tần, đã hư cấm từ lâu, nhưng Ngài La Thập nhờ ngày trước đã được xem tâm tôn của Phật, nên trọn ngày nghiên cứu, không hề mệt mỏi, các lời đối đáp trong toàn bộ luận này. Ngài tự nghĩ rằng: “Lời lẽ trong bộ luận quá thậm thâm, quá vi diệu. Hận mình tâm chẳng thấy rõ được ý chỉ của đấng Luận chủ. Lại tiếc cho Pháp Mầu mênh mông chưa được trải khắp nơi, ta nguyện quên đi ngu huệ của mình để mạnh dạn làm nghĩa hiệp của sa môn”. Nghĩ như vậy rồi, Ngài mời các bậc công

    khanh, sĩ khí, khoảng 500 người, nhóm họp ở Vị Tân, cấm tục tại Tiêu Diêu Viên đường ở đất Lâm Giang, cùng xem huyền chương, khảo chính, xét trong bộ luận gốc chữ Phạn có 10 vạn bài kệ, mỗi bài có 32 chữ, cộng thành 320 vạn lời. Nhờ vậy mà Ngài rõ được ý chỉ của bộ luận, lấy chỗ quy về đường thẳng, chẳng còn chướng ngại, vướng mắc gì nữa cả.
    Bên Thiên Trúc có chép rằng: “Rốt sau thời Chánh Pháp có ngài Mã Minh, đầu thời Tượng Pháp có Ngài Long Thọ, là những vị luận chủ tuyệt luân trong môn Đạo học. Hai Ngài phá sạch hết các tà kiến, hư ngôn, thẳng đường vào thật giáo, chẳng còn bị các tà luận làm trở ngại nữa. Bởi vậy nên ở bên Thiên Trúc cũng như nhiều nước khác, đã lập miếu tôn thờ hai Ngài, lại cho rằng: “Mặt trời trí huệ của Phật đã được hai Ngài làm thêm rực rỡ, phá tan hết màn tối tăm u ám, khiến người tu học ngộ được chân thật lý”.
    Sự đóng góp của Pháp Bảo Tạng của hai Ngài là công quả của hàng Thập Địa Bồ Tát. Hai Ngài thật xứng đáng là những vị Bồ Tát Bố Xứ vậy.
    Bộ luận này truyền đến Trung Quốc thật quả là điều may mắn. Ngài Pháp Sư Cưu Ma La Thập thấy rõ lời văn chữ Phạn quá uẩn khúc, mà người Tần lại thích lối văn giản dị, nếu dịch cho đầy đủ thì phải đến cả 1000 quyển, nên Ngài chỉ lược dịch cô đọng vào 100 quyển mà thôi. Tuy chỉ lược dịch có phần ít, mà đã hiển bày được chỗ thậm thâm vi diệu cao siêu của diệu lý Chân Thừa.

    nếu dùng bút mà tranh luận, thì trọn đời chẳng sao hết được. Ước mong các bâc cao minh liễu đạt được huyền chỉ trong bản văn lược dịch này.

    Trích bài tựa Do Ngài Trường Anh Thích Tăng Duệ Phụng soạn

       

    Bài viết liên quan:

    Last edited by vienquang6; 12-02-2017 at 03:23 AM.
    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  2. The Following 2 Users Say Thank You to vienquang6 For This Useful Post:

    bangtam (05-12-2012), bitridung (05-12-2012)

  3. #2
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,316
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,178
    Thanked 1,778 Times in 1,192 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Lược trích Đại Trí Độ Luận.

    * Lời nói đầu (của SB TN Diệu Không):

    Bộ Luận Đại Trí Độ do Bồ Tát Long Thọ tạo tác, nhằm tuyên bày giáo nghĩa thậm thâm vi diệu của pháp Đại thừa Bát nhã ba la mật.

    Bộ Luận Đại Trí Độ này được ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phiên dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán. Trong thời gian phiên dịch, ngài đã nhóm họp 500 vị thiện hữu tri thức, cấm túc tại Tiêu Diêu Đường, ở Lâm Giang nghiên cứu huyền chương, khảo chánh và lược dịch từ 1.000 quyển.

    Tôi nhận thấy công tác phiên dịch các tạng Pali, Sanskrit, Hán v.v... ra Việt văn, đã được nhiều bậc tôn túc cao minh thực hiện. Thế nhưng cho đến nay Bộ Luận Đại Trí Độ này chưa được phiên dịch ra Việt văn.

    Bởi nhân duyên ấy, cho nên dù tuổi già sức yếu, tôi cũng xin nguyện góp vào công tác phiên dịch, và mạnh dạn dịch bộ luận này từ Hán văn ra Việt văn, nhằm đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu và học hỏi của hàng Tăng ni và Phật tử.

    Bát nhã Ba la mật nghĩa quá thậm thâm vi diệu, chẳng có thể dùng văn tự ngôn ngữ mà diễn đạt được. Do vậy nên công tác phiên dịch vô cùng khó khăn, chẳng sao tránh khỏi những điều sai sót. Kính mong các bậc Tôn túc cao minh hoan hỷ chỉ giáo cho.

    Vì muốn cho lời văn trong bản dịch được phù hợp với lối hành văn hiện đại, nên tôi đã nhờ Thượng tọa Thích Thiện Trí và Cư sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm giúp tôi trong việc nhuận bút và biên tập.

    Sau gần 5 năm làm việc liên tục, Bộ Luận Đại Trí Độ này mới được hoàn tất.

    Bằng tịnh tín tâm lực, tôi nguyện đem công đức phiên dịch này hồi hướng đến khắp pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật Đạo.

    Nam Mô Viên Mãn Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

    Mùa an cư Đinh mão (PL. 2531)
    Tỳ kheo ni THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG
    Chùa Hồng Ân - Huế.




    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  4. The Following 4 Users Say Thank You to vienquang6 For This Useful Post:

    bangtam (06-12-2012), bitridung (05-12-2012), Chiếu Thanh (02-12-2012)

  5. #3
    Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin vienquang6 is on a distinguished road vienquang6's Avatar
    Ngày tham gia
    Feb 2007
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    6,316
    Credits
    5,801
    27
    MASTER
     
     
    Số lần cộng|trừ: 1 lần
    Thanks
    2,178
    Thanked 1,778 Times in 1,192 Posts
    Rep Power
    10

    Mặc định Lược trích Đại Trí Độ Luận.

    .Lược Sử Tổ Long Thọ:

    *Bồ tát Long Thọ sống trong khoảng một phần tư cuối cùng của thế kỷ thứ nhất và một phần tư đầu của thế kỷ thứ hai.
    Theo ngài Cưu Ma La Thập kể lại .-thời trẻ ngài Long Thọ biết phép thuật tàng hình nên đã cùng với hai người bạn biến hóa vào cung vua để quyến rũ cung nữ. Nhưng một lần, ngài suýt chết dưới bàn tay của những người canh gác, nhờ phép thuật nên ngài thoát chết còn hai người bạn bị lính giết. Qua tai nạn đó Ngài tỉnh ngộ sự nguy hiểm của sắc dục nên đã xuất gia theo Phật . (theo truyền thuyết ngài là truyền nhân ngôi tổ Thiền thứ 14 tiếp ngôi của Tổ Ca tỳ Ma La)
    Long Thọ Tổ sư ,là một Đạo Sư sáng chói của Phật giáo thuở đó (sau này ngài còn được tôn xưng là đệ nhị Thích Ca)
    Tổ Long Thọ trước tác nhiều tác phẩm mang tính Triết học của Phật giáo,xuất phát từ kinh Bát Nhã Ba la mật của Đức Phật Thích Ca Mâu ni.

    Lại cũng có truyền thuyết như (trích)
    Theo một truyền thuyết khác thì Long Thụ, bằng những bài thuyết pháp của mình, đã thuyết phục một số loài rồng nên được mời xuống Long cung trao lại bộ kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa (sa. prajñāpāramitāsūtra) để báo ân. Tương truyền là Phật đã phó chúc cho loài rồng này gìn giữ bộ kinh và chờ đến khi nào nhân duyên viên mãn, loài người đã đủ khả năng để tiếp thu giáo lí này. Truyền thuyết này đã mang tên tiếng Phạn là "Nāgārjuna", có nghĩa là "trong trắng như loài rồng" (nāga = Long; arjuna = màu trắng, thanh tịnh). Tuy nhiên tên này được người Hoa hiểu là Long Thụ, tức là "một loài cây của rồng" (arjuna được hiểu là một loại cây, Terminalia Arjuna W. and A). Một biểu tượng dành riêng cho Long Thụ khác là những con rồng (hoặc rắn) trong hào quang của Sư.

    Còn rất nhiều truyền thuyết khác về Long Thụ, như câu chuyện về cơn bệnh ngặt nghèo thời niên thiếu, được chữa trị khi Sư xuất gia và nghiên cứu kinh điển nhà Phật. Một truyện khác thuật lại các phép tu luyện kim và tạo nước trường sinh bất tử, cũng như việc Sư tự vẫn bằng cọng cỏ vì đáp ứng yêu cầu những người tranh luận mà Sư đã hàng phục. Sư đáp ứng yêu cầu vì lòng từ bi mà được giải thích là: bởi trong một tiền kiếp, Sư đã vô ý sát hại một côn trùng và việc này trở thành nghiệp quả Sư phải trả.

    Thông tin có thể kiểm chứng về cuộc đời thực sự của Sư như vậy rất ít, nhưng mặc dù vậy, một vài điểm có thể được xác nhận, đó là Sư sống trong thế kỉ thứ 2, xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn miền Trung Ấn là Vidarbha, tiểu bang Maharashtra hiện nay. Khi tuổi đã cao, Sư trở về quê hương ở Trung Ấn, sống trên núi Phạm thiên (sa. brahmagiri), cao nguyên Śrīparvata, gần sông Kṛṣṇā. Ngọn đồi với ngôi chùa bây giờ vẫn còn và được mang tên của Sư – "Đồi Long Thụ" (sa. nāgārjunakoṇḍa). Các nhà nghiên cứu lịch sử sau này đã xác định được khoảng thời gian Sư hoằng hoá vì người ta tìm ra một vị vua có quan hệ với Sư ngự trị từ năm 106 đến năm 130 (vua xứ Śātavāhana, tên Gautamīputra Śatakarṇin, được dịch âm Hán-Việt là Kiều-đạt-di Phổ-đặc-la Khả-nhĩ-ni). Sư đã viết thư khuyên vị vua này. Những lời khuyên đó còn được lưu truyền trong tập Khuyến Giới Vương tụng (sa. suhṛllekha).
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Long_Th%E1%BB%A5


    (Tổ Long Thọ được tạc tượng có hình Rồng hộ Thể và có tướng Nhục Kế giống như Phật biểu thị 32 Tướng Đại Nhân)

    Last edited by bangtam; 14-12-2012 at 03:38 AM.
    vienquang6


    Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
    Buông thuyền lúc khách đã sang sông.

  6. The Following 7 Users Say Thank You to vienquang6 For This Useful Post:

    bangtam (06-12-2012), Bạch Vân Nhi (02-12-2012), bitridung (05-12-2012), Chiếu Thanh (02-12-2012), hungmq (27-05-2014), Nhuận Tâm (02-12-2012), tt_chuyenphapluan (01-12-2012)

+ Trả lời Chủ đề + Viết chủ đề mới
Trang 1 của 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 CuốiCuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Similar Threads

  1. Trả lời: 7
    Bài viết cuối: 25-01-2008, 12:28 AM

Members who have read this thread : 22

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình