|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

Mini Statistics
Ngày tham gia
26-10-2006
Hoạt động cuối
06-04-2016 10:43 PM
Blog Entries
11
Avatar
Chiếu Thanh's Avatar
More 1 Friends
Recent Visitors
The last 10 visitor(s) to this page were:
  1.  baba
  2.  Bkav
  3.  connhoemkhong
  4.  dakhoa425q6
  5.  dothoxomdong
  6.  minhtanseo76qn
  7.  Một Phật tử "hư"
  8.  sinbad
  9.  Thích Trang
  10.  vienquang6
6,326 Thành Viên SCL đã ghé thăm trang này
Tab Content
Về tôi
Friends
Blog
Level & Class

About Chiếu Thanh

Thông tin cơ bản

About Chiếu Thanh
Giới tính
Nam

Chữ ký

Nam Mô A Di Đà Phật.
Tất bật hơn thua rồi củng bỏ.
Thong dong vô sự vậy mà vui

Danh sách liên hệ

Thống kê

Tổng số bài gửi
Tổng số bài gửi
1,357
Gửi mỗi ngày
0.29
Bài viết cuối
Lời Phật dạy. 14-02-2016 10:36 PM

Currency

Credits
312,920
Total Thanks
Total Thanks
446
  • Thanked 624 Times in 371 Posts
Thông tin chung
Hoạt động cuối
06-04-2016 10:43 PM
Ngày tham gia
26-10-2006
Referrals
2

1 Friends

  1. khoisw2007 khoisw2007 Đang Ngoại tuyến

    Thành viên chính thức

    khoisw2007
Showing Friends 1 to 1 of 1

 View Chiếu Thanh's Blog

"Lời dạy quý báu"_của Đức Pháp Chủ Thích Phổ Tuệ.

by Chiếu Thanh on 12-11-2012 at 05:19 AM
"Nam mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch chư Tôn Thiền đức!
Kính thưa Liệt vị cùng toàn thể Tăng Ni, Thiện Tín trong đạo tràng!
Hôm nay chúng tôi rất hân hạnh được tham dự khai giảng khóa bồi dưỡng Hoằng Pháp cho Tăng Ni, Thiện Tín, hoằng pháp viên ở miền Bắc nói chung, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Mở đầu, chúng tôi xin thành thực cảm ơn Đạo tràng và Ban tổ chức đã nhiệt tình đón tiếp, cũng xin nguyện cầu Phật, Tổ gia hộ, chứng minh công đức chư vị đã tổ chức Phật sự này.
Đến đây, chúng tôi nhận thấy có trách nhiệm phải đóng góp cùng Ban tổ chức hoàn thành tốt chương trình khóa học đã đề ra.
Chúng tôi xin tham gia mấy điểm về việc bồi dưỡng quý vị Tăng Ni nghệ thuật trụ trì và kỹ năng thuyết giảng.
Nói đến trau dồi kỹ năng thuyết giảng là nói đến chuyện phải “học ăn, học nói” như thế nào để người ta nghe được; nói là nói điều gì cho đúng với Phật pháp chứ không phải sa đà vào các chuyện thế tục.
Phật pháp vào đời là để ban vui cứu khổ cho nhân sinh, lấy loài người là đối tượng chủ yếu để giảng dạy.
Đức Phật tuyên thuyết về sự tu hành, nhấn mạnh sa đọa hay tiến hóa cũng là ở con người, được quyết định bởi chính mình. Bản thân Đức Phật đản sinh, tu hành, thành đạo, thuyết pháp và tịch diệt đều ở cõi người, tuân theo lý vô thường của thế gian.
Đức Phật từ cõi chân tịnh mà thị hiện ở thế gian, cho thấy thế gian này có đủ điều kiện để loài người tu hành mà tiến hóa lên như Phật đã làm chứng.

Là Tăng Ni, ai nấy đều phải tự tín mà xác định mục đích của việc tu hành theo Phật là phấn đấu lên bốn cõi Thánh: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật, chứ đến cõi Trời tuy sung sướng đầy đủ cũng chỉ thuộc về các cõi phàm, vì ở đó khi hết phúc rồi thì cũng bị sa đọa.

Là Tăng Ni, chúng ta tu học, tu hành theo Đức bản sư của chúng ta, noi theo tấm gương của Thầy, nương vào Tăng chúng, nỗ lực tự thân tiến hóa, hoàn thiện mình. Trước hết là trau giồi 3 nghiệp thân, khẩu, ý cho chuyên, cho thanh tịnh.

Phương pháp của Đức Phật để lại cho chúng ta rất giản dị, rất rõ ràng, ai cũng có thể làm được. Chỉ có điều chúng ta có làm, làm triệt để hay không mà thôi.

Ở miền Bắc, nhất là ở đồng bằng đã có nhiều chùa. Lớn nhỏ, mỗi làng thường có ít nhất một ngọn chùa. Mỗi ngọn thường có 1 vị sư. Nhiều vị có đủ phẩm chất, xứng ở ngôi trụ trì, nhưng cũng còn nhiều vị phải được bồi dưỡng thêm.

Sư là khuôn mẫu, mô phạm của loài người, chí ít là trong một cộng đồng người, nếu không có đạo hạnh, không có trí tuệ thì lấy gì mà dạy người? Lấy gì làm gương tốt để mọi người noi theo?
Nhà chùa phải phấn đấu theo hướng, không chỉ là nơi thờ Phật, Tổ, sinh hoạt tín ngưỡng mà căn bản còn phải là trường học để giáo hóa thập phương đồng bào bỏ ác theo thiện, thấm nhuần giáo lý nhân quả. Từ đó thúc đẩy sự tiến hóa của xã hội và nhân sinh. Trụ trì là người trực tiếp, trực diện làm điều đó.

Là Tăng Ni, vị nào cũng đã từng được biết về ý nghĩa của trụ trì, “trụ Pháp vương gia, trì Như lai tạng” và đều từng biết ý nghĩa của xuất gia “xuất thế tục gia, xuất phiền não gia, xuất tam giới gia”… Nói thì dễ, nhưng để làm, làm đến nơi đến chốn thì không phải là dễ.

Nếu nói rất hay mà không làm, làm ngược lại, làm dở thì vô dụng, không thể giúp đỡ đồng đạo, đồng bào tu học mà tiến hóa được, đó là nguyên do để cuộc đời tu hành của chúng ta không hoàn thành trách nhiệm, có tội với Đạo, với Đời.


Là đệ tử Phật, theo Phật, chúng ta phải học và hành theo Phật, Ăn cơm, mặc áo của thập phương thiện tín, chúng ta phải cống hiến trả lại cho đời. Đó là lẽ tự nhiên, là luật nhân quả, chúng ta phải thường tự vấn, tự tỉnh về điều đó.
Trong thực tế, tùy theo mức độ phát nguyện, đệ tử Phật phải giữ gìn, thực hành giới luật: tam quy ngũ giới, bát quan trai, thập thiện...
Lấy những điều đơn giản nhưng rất căn cốt ấy mà nhìn nhận vào 3 nghiệp thân khẩu ý: việc làm, lời nói, ý nghĩ của mỗi người (có sát sinh, có trộm cắp, có tà dâm, có nói dối, có nói thêu dệt, nói đôi đường, nói ác độc, có tham lam, giận dữ, si mê không?) thì thấy Phật giáo, công việc và trách nhiệm của Tăng Ni, của trụ trì, của Thiện tín đối với bản thân, với đệ tử, với đời sống xã hội là rất nặng nề, song rất có ý nghĩa đối với sự tiến hóa của loài người.

"Là đệ tử Phật, theo Phật, chúng ta phải học và hành theo Phật" Đức đệ tam pháp chủ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam - Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ
Ngày càng có nhiều điều chân lý, giới cấm của Phật giáo được xã hội, được nhân loại tiếp nhận và thực hành. Đơn cử như việc Liên hiệp quốc

Read More

Thể loại
Uncategorized

Đức Phật_ Thích Ca Mâu Ni

by Chiếu Thanh on 01-03-2012 at 12:19 AM
Tiến trình lịch sử nhân loại, có một vỉ nhân suốt 26 thế kỷ đã được loài người hết lòng tán dương và ca tụng. Dưới đây, là vài nhận xét tiêu biểu của nhiều học giả trên khắp thế giới.

"Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó". [Albert Einstein]
1. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật :
Ðức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến. [Giáo sư Max Miller, Học giả người Ðức].
Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ nơi đức Phật trong cơn tức giận, chưa từng có một lời thô bạo được thấy trên môi đức Phật kể cả trong lúc tình cờ. [- Tiến Sĩ S. Radhakrishnan].
Ðiều đáng chú ý nhất nơi đức Phật là sự kết hợp gần như độc nhất của một đầu óc khoa học trầm tĩnh và thiện cảm sâu xa của lòng từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại. [Moni Bagghee, "Ðức Phật Của Chúng Ta"].
Các bạn thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, đơn độc, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải là thần kỳ, tôi cảm thấy có một Người, đó là Ngài. Ngài đã gửi bức thông điệp cho nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài, tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy: là do lòng ích kỷ. Lòng ích kỷ có ba dạng: - Một là tham vọng thỏa mãn cảm giác; - Hai là tham vọng muốn bất tử; - Ba là tham vọng thành công và trần tục. Con người trước khi có thể trở nên thanh tịnh, người đó phải ngưng sống theo giác quan hoặc cho riêng chính mình.
Rồi con người đó mới trở thành một bậc đại nhân. Ðức Phật, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, năm trăm năm trước Chúa Christ, đã dạy con người đức tính vị tha. Trong một số chiều hướng Ngài rất gần gũi với chúng ta hơn, và đáp ứng được nhu cầu của chúng ta. Ðức Phật cũng tỏ ra sáng suốt hơn Chúa Christ trong sự quan tâm phục vụ con người và ít mơ hồ đối với vấn đề trường tồn bất tử của kiếp nhân sinh. [- H.G. Wells].

Tôi càng ngày càng cảm thấy đức Thích Ca Mâu Ni gần gủi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài, Ngài là Ðường lối, là Chân lý và là Lẽ sống.

[- Giám mục Milman].

2. Trí tuệ siêu việt của Đức Phật
Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống của mình trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thánh thần nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không xâm nhập trong đời sống của Ngài được. [- Giáo Sư Eliot, "Phật giáo và Ấn Ðộ giáo"].
Ðức Phật không chỉ nhận thức được sự thực tối cao, Ngài còn biểu lộ kiến thức cao cả của Ngài, kiến thức cao hơn tất cả kiến thức của các "Thần linh và Người". Kiến thức của Ngài rất rõ ràng và độc lập không liên can gì đến thần thoại và hoang đường. Tuy nhiên, nơi đây lại còn cho thấy một hình thức vững vàng, tự nó biểu lộ được một cách rõ ràng và hiển nhiên để cho con người có thể theo Ngài. Vì lý do đó, đức Phật không đòi hỏi phải tin nhưng hứa hẹn kiến thức. [- George Grimm, "Giáo Lý của đức Phật"].
Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đức Phật khuyến dụ, khẩn cầu và kêu gọi con người không nên làm hại một sanh mạng, không nên dâng lời cầu nguyện, lời ca tụng, hay hy sinh (sanh mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện trong sự thuyết giảng của Ngài, đấng Vô Thượng Sư có lần hùng hồn tuyên bố là Thần linh, nói cho đúng, cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ. [Giáo Sư Rhys Dadis].
Ðức Phật không giải thoát con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự chính mình giải thoát lấy mình, như chính Ngài đã tự giải thoát lấy Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này đến từ nơi Ngài, nhưng vì lòng xác tín cá nhân, thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình. [- Tiến Sĩ Oldenburg, Một học giả Ðức].
Dường như người thanh niên bất diệt, hiền lành, ngồi khoanh chân trên hoa sen thanh tịnh với bàn tay phải dơ lên như khuyên nhủ như trả lời: "Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy luyện tập trí tuệ và từ bi". [Anatole France].
Sự khác biệt giữa đức Phật và một người bình thường giống như sự khác

Read More

Thể loại
Uncategorized

“Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành”

by Chiếu Thanh on 28-02-2012 at 02:53 AM

Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành
( Không làm các việc ác- Thường làm các việc lành)





Nhìn thấy đề mục này chắc chắn mọi người sẽ nói rằng: “lại ca điệu ca cũ rích”. Vâng, đúng là điệu ca cũ rích, nhưng điệu cũ rích này nên ca nhất định nên ca và phải thường xuyên ca. Không ca không được. Nếu điệu cũ rích này không ca người học Phật sẽ đi phải con đường ngoằn ngèo thậm chí đường bất chánh.

Người bây giờ, đặc biệt là tầng lớp trẻ mới bắt đầu học Phật đã nghĩ ngay đến tọa thiền Tứ thiền bát định rồi nào là quán tưởng cảnh giới, Tâm không phật không,... nhưng trên thực tế tìm cầu những thứ này đều là vọng tưởng, cầu là tham đi ngược lại với giáo lý căn bản Phật giáo. Vì sao người bây giờ luôn có những suy nghĩ vọng tưởng đối với Phật giáo. Thực tế thì đó là những thói quen cũ trong cuộc sống của những kẻ phàm tục. Thói quen cũ của họ là như vậy. Đói rồi mà họ không chỉ ăn no là đủ mà còn phải ăn ngon ăn, ăn dư; Y phục không chỉ mặc để ấm để đủ mà còn mặc hàng hiệu, hàng ngọai. Nếu gặp lúc buồn chán muốn học Phật thì muốn thành Phật chứ Bồ tát La hán không cần. Ngững người đó không chỉ tham mà còn sân mạn nghi,... Chúng ta học Phật nên bỏ đi thói quen cũ này. Tọa thiền, niệm Phật chỉ là hình tướng bên ngoài của học Phật. Nếu như cuộc sống hằng ngày không tích lũy phước đức, thì lúc tọa thiền những thói quen cũ lại khởi lên. Bởi thế chúng ta nên từ trên căn bản mà sữa đổi ngay những thói quen cũ này. Từ căn bản là thế nào? Tức là sữa đổi ngay ở sáu căn của chúng ta (Nhãn, nhĩ, tỹ ,thiệt, thân, ý) sáu căn là tất cả căn bản trong cuộc sống thường nhật của chúng ta. Vì thế trong cuộc sống hằng ngày chúng ta từ sáu căn “không làm các vịêc ác mà làm các việc thiện”. Chúng ta làm cho lục căn thanh tịnh, tịnh hóa những cấu nhiễm trong cuộc sống. Chỉ cần hằng ngày chúng ta làm cho tâm ý thanh tịnh thì chúng ta sẽ an nhiên thảnh thơi, thóat khỏi những lo lắng muộn phiền, tiếc nuối,... thì đó chính là thiền là định.

Bởi vậy chúng ta học Phật tu hành nên bỏ đi những thói quen cũ này mà ngay trong cuộc sống thường nhật “không làm các vịêc ác mà làm các việc thiện” đó là chứng minh chúng ta tu hành thành tựu, đó là con đường chánh để học Phật. “Không làm ác mà làm lành” là một việc hết sức bình thường, không giống như Tứ thiền bát định, thiền chỉ thiền quán,..cho nên chúng ta xem thường nó. Như vậy thì chúng ta học Phật cũng như đi xem kịch mà không vì việc liểu sanh thoát tử.
Nếu là như vậy thì Tín và Nguyện của chúng ta là bất chánh, mà bất chánh thì rơi vài tà đạo. Một người tín nguyện chân chánh mà xem thường việc “không làm điều ác, thường làm việc lành” thì đã đi con đường cong quẹo rất dể gặp phải những chướng ngại khác. Điều này thấy rất đơn giản nhưng lại rất xâu xa. Phật dạy rằng: tất cả những việc làm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta đều là biểu hiện ra bên ngoài của nội tâm động niệm mà khởi. Hành vi bên ngoài và tâm niệm bên trong không có sai biệt. Khi chúng ta tọa thiền đạt được cảnh giới nào, tầng thiền nào đều tương ưng với phước đức tu hành trong cuộc sống thường nhật của chúng ta. Nếu một người tích lũy phước đức cao thì khi tọa thiền sẽ dể đạt được cảnh giới cao. Và ngược lại, một người bình thường không tạo phước đức, nghiệp chướng sâu dày thì dù có ngồi thiền một đời cũng không đạt được gì cả. Bình thường chúng ta nói tu hành liền nghĩ ngay đến ngồi thiền hay những gì cao xa lắm; kỳ thật tu hành là tích lũy phước đức, tu 37 phẩm trợ đạo, lục độ vạn hạnh. Nhưng không chỉ hoàn toàn tìm cầu phước báo bên ngoài mà là “Tự tịnh kỳ ý” (làm cho tâm ý mình thanh tịnh, trong sạch). Rất nhiều người nghĩ rằng “tự tịnh kỳ ý” là công phu của tọa thiền, niệm Phật.
Tôi cảm thấy không đúng lắm, “tự tịnh kỳ ý” là công phu của “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” mà được vậy. Tu hành thì “chư ác mạc tác, chúng thịên phụng hành” là việc chính hành, còn tọa thiền niệm Phật là Trợ hành.

Tôi cảm thấy rất nhiều người đánh giá thấp thâm ý của “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” trong bài kệ này. Hai câu này không chỉ là tư tưởng căn bản của Lục Tổ Đàn Kinh: “làm việc chánh tức là đạo”, cũng tương ưng với câu “dĩ giới vi sư”. Tức là làm việc ác là phạm giới, việc thiện mà không làm cũng phạm giới. Có người định nghĩa Tam vô lậu học như sau: giới là trì giới; thiền là tọa thiền, như vậy cũng sai rồi. Hàm ý chân chánh của Tam vô lậu học là “nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ”. Cũng có thể nói: công phu của việc trì giới là công phu của“chư ác mạc tác,chúng thiện phụng hành”. Khi giới đã thuần thục thì tự nhiên phát định.
Định ở đây không phải là tọa thiền nhập định. Định không chỉ chỉ có ở Phật giáo mà các ngoại đạo cũng có. Tọa thiền nhập định chỉ là một loại trợ hành mà thôi.

“Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự

Read More

Thể loại
Uncategorized

Quan niệm của người Phật tử đối với cái chết

by Chiếu Thanh on 25-02-2012 at 12:55 AM

Quan niệm của người Phật tử
Đối với cái chết



Giác Ngộ - Không những sống chết không đáng ngạc nhiên mà chúng ta cũng nên biết rằng, dù muốn dù không, sống chết là lẽ tự nhiên của thân thể, không làm sao tránh được. Giảng bài này chúng tôi chỉ có một mục đích là nhắc lại cái quan niệm về cái chết mà Đức Phật đã dạy chúng ta. Chúng tôi lại còn tha thiết trông mong các đạo hữu cố gắng nhận thức và thực tập cái quan niệm ấy để tránh bao nhiêu sự phiền phức có hại về cái chết.
Mục đích của chúng tôi là như thế, bây giờ thì các đạo hữu hãy tưởng tượng đương đứng trước một người chết rồi, cùng chúng tôi đặt ra từng câu hỏi để ôn lại quan niệm về cái chết mà Đức Bổn Sư đã dạy.
Chết là gì?
Thông thường thì chúng ta thấy sống và chết là hai cái rất khác nhau và mâu thuẫn nhau. Nhưng nếu chúng ta nhớ lại đạo lý "vô thường" của Phật dạy thì không thấy có gì là lạ cả.
Theo lời Phật dạy, chúng ta thấy tất cả sự vật đổi dời luôn luôn, không một cái gì ngừng lại được một phút nào: nói về tư tưởng thì ta thấy mỗi một tư tưởng phát sinh rồi thì cũng diệt đi để tư tưởng khác tiếp tục phát hiện; nói về thân thể thì các tế bào luôn luôn thay đổi, lớp trước diệt thì lớp sau sinh.
Chính sự sinh diệt này đã liên tiếp tạo thành cái chết. Và chết là gì? Chỉ là kết liễu một giai đoạn đã tan và tiếp nối qua một giai đoạn mới mẻ khác.
Cho nên hàng ngày chúng ta luôn luôn sống chết và sự sống chết của thân thể chỉ như sự diệt đi để cho cái khác sinh ra của tư tưởng hay của tế bào mà thôi.
Xét như vậy thì chúng ta thấy không những vì có sống mới có chết, mà lại còn chính có chết mới có sống, nên không có chi đáng ngạc nhiên cả. Không những sống chết không đáng ngạc nhiên mà chúng ta cũng nên biết rằng, dù muốn dù không, sống chết là lẽ tự nhiên của thân thể, không làm sao tránh được.
Tại sao chết?
Như trên kia tôi đã nói, sự sinh diệt của thân tâm tạo thành cái chết. Nay căn cứ kinh luận, chúng ta thấy cái chết của tất cả mọi loài có bốn nguyên nhân sau đây:
- Nghiệp lực đã hết.
- Sắc thân suy đồi.
- Đồng thời nghiệp lực hết mà sắc thân cũng suy đồi.
- Do sức mạnh khác ở ngoài đến hủy hoại.
Ta hãy lấy cây đèn để thí dụ bốn nguyên nhân ấy. Một cây đèn có thể tắt vì:
- Tim cháy hết.
- Dầu khô hết.
- Cả tim và dầu đều hết.
- Một sức mạnh ở ngoài như gió thổi tắt.
Tuy cái chết là kết quả của những nguyên nhân như vậy, song quan hệ nhất là "nghiệp lực đã hết". Bởi vì như chúng ta đã biết, nghiệp lực tạo ra cái thân, nghiệp lực gây ra sự sống, cho nên sự chết cũng do nghiệp lực quyết định.
Ta hãy lấy một ví dụ: Ta dùng tay ném quả bóng, quả bóng ấy lên được trên không là nhờ sự ném và nó lên được cao hay thấp là vì sức ném mạnh hay yếu.
Thân thể của chúng ta cũng vậy: có ra là vì nghiệp lực, và sống được lâu hay mau cũng là vì nghiệp lực đã tạo.
Theo cái thí dụ giản dị trên, chúng ta thấy rằng quả bóng mà rơi xuống chính vì sức ném đã hết. Còn ngoài ra vì quả bóng lủng bể mà rơi hay vì vấp phải cái gì ngăn trở mà rơi đều là lý do phụ. Cũng như vậy, thân thể chết, nguyên nhân chính là vì nghiệp lực hết, còn ngoài ra sắc thân suy đồi hay các sức mạnh ở ngoài đều là nguyên nhân phụ thuộc? Và ở đây chúng ta phải chú ý một điều nữa, những nguyên nhân phụ ấy gây ra cái chết cùng là do nghiệp lực tác động.

Sau khi chết thì sao?
Như trên đã nói thì sự sống của chúng ta đây chỉ là sự biểu hiện của sự sinh diệt nhưng liên tục của tư tưởng và tế bào. Ta hãy chú ý lại chỗ này một chút. Tất cả tư tưởng và tế bào của chúng ta đều chuyển biến luôn luôn, trước diệt sau sinh. Và mỗi một tư tưởng thay đổi đều có liên hệ mật thiết đến sự thay đổi của thân thể, ví dụ như sự tuần hoàn của khí huyết (nghĩa là tâm lý liên hệ đến sinh lý).
Như vậy, sau mỗi một tư tưởng thay đổi, thân thể của ta thiệt không y như trước nữa. Cho nên thân tâm của chúng ta hiện tiền luôn luôn sống và chết, chết rồi sống, lớp trước diệt, lớp sau sinh. Tuy vậy mà tâm thức của chúng ta không bao giờ gián đoạn cả. Chẳng qua sau một lần thay đổi thì thân thể cũng như tư tưởng của chúng ta lại tiếp qua một trạng thái có màu sắc khác trước mà thôi.
Sự sống chết từng phút chốc hiện tiền như vậy thì sự sống chết từng đời kiếp cũng như thế. Tâm tánh không bao giờ đoạn diệt. Chỉ có một điều là, chết nghĩa là nghiệp lực hết, cho nên tâm thức thoát thân cũ mà thọ thân mới. Thật ra cái thân cũ không mất hẳn đi

Read More

Thể loại
Uncategorized

Kinh kalama

by Chiếu Thanh on 23-02-2012 at 02:49 PM
Kinh Kalama
(Tăng chi III.65)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Thế Tôn du hành trong xứ Kosala, cùng với đại chúng tỳ khưu đi đến thị trấn Kesaputta của bộ tộc Kalama.


Các người Kalama ở Kesaputta được nghe: "Du sĩ Gotama là bậc xuất gia của dòng họ Thích-ca đang du hành trong xứ Kosala, vừa đến Kesaputta. Tiếng đồn tốt đẹp về Ngài Gotama được truyền đi như sau: Ngài là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế tôn. Ngài giảng pháp cao diệu, rõ ràng, đầy đủ từ chặng đầu, chặng giữa, cho đến chặng cuối. Ngài tuyên bố đã chứng đắc đạo quả tối thượng bằng chính tuệ giác của Ngài đến toàn thể thế giới của chư thiên và nhân loại. Ngài có đời sống phạm hạnh hoàn toàn tinh khiết. Lành thay, nếu chúng ta được yết kiến một vị Ứng cúng như vậy".


Rồi các người Kalama ở Kesaputta đến yết kiến Thế Tôn. Sau khi đến, có người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân thiện với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người cung kính chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên họ rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng ngồi xuống một bên.


Sau khi ngồi xuống, các người Kalama ở Kesa-putta thưa với Thế Tôn:


- Bạch Ngài, có một số du sĩ, Bà-la-môn, đến Kesaputta. Họ thuyết minh và phát huy giáo lý của mình, nhưng họ bài xích, khinh miệt, chê bai và xuyên tạc giáo lý người khác. Lại có một số du sĩ, Bà-la-môn khác đến Kesaputta, họ cũng thuyết minh và phát huy giáo lý của mình, nhưng họ cũng lại bài xích, khinh miệt, chê bai và xuyên tạc giáo lý người khác. Bạch Ngài, đối với những người ấy, chúng con nghi ngờ phân vân: "Trong những du sĩ, Bà-la-môn này, ai nói đúng sự thật, ai nói không đúng sự thật?"


- Này quý vị Kalama, đương nhiên quý vị có những nghi ngờ, phân vân. Khi có điều đáng nghi ngờ, đương nhiên phân vân khởi lên.


Này quý vị Kalama, đừng tin vì nghe truyền khẩu, đừng tin vì đó là truyền thống, đừng tin vì nghe đồn đại, đừng tin vì được ghi trong kinh điển, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì suy diễn, đừng tin vì đã tư duy trên mọi lý lẽ, đừng tin vì dựa theo ý kiến đã được cân nhắc, đừng tin vì vị ấy có vẻ có uy quyền, đừng tin vì nghĩ rằng vị ấy là thầy của mình.


- "Nhưng này quý vị Kalama, khi nào quý vị tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là bất thiện; các pháp này là đáng chê; các pháp này bị người trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, sẽ đưa đến bất hạnh khổ đau’, quý vị hãy từ bỏ chúng."


Quý vị nghĩ thế nào? Khi tham lam, sân hận, si mê khởi lên trong tâm người nào, sẽ đem đến lợi lạc hay đau khổ?


- Đem đến đau khổ, bạch Thế Tôn.


- Này quý vị, người nào có tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm bị tham sân si chinh phục và xâm chiếm, người ấy sẽ sát sinh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và khích lệ kẻ khác làm ác như vậy. Do đó, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?


- Thưa có, bạch Thế Tôn.


- Quý vị nghĩ thế nào, các pháp này là thiện hay bất thiện?


- Bất thiện, bạch Thế Tôn.


- Đáng chê hay không đáng chê?


- Đáng chê, bạch Thế Tôn.


- Có tội hay không có tội?


- Có tội, bạch Thế Tôn.


- Bị người trí quở trách hay không bị người trí quở trách?


- Bị người trí quở trách, bạch Thế Tôn.


- Nếu được thực hiện và chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không? Ở đây, chúng sẽ tác động như thế nào?


- Nếu được thực hiện và chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ. Ở đây, chúng sẽ tác động như thế.


- Như vậy, này quý vị, hãy ghi nhớ điều Ta vừa nói:


"Này quý vị Kalama, đừng tin vì nghe truyền khẩu, đừng tin vì đó là truyền thống, đừng tin vì nghe đồn đại, đừng tin vì được ghi trong kinh điển, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì suy diễn, đừng tin vì đã tư duy trên mọi lý lẽ, đừng tin vì dựa theo ý kiến đã được cân nhắc, đừng tin vì vị ấy có vẻ có uy quyền, đừng tin vì nghĩ rằng vị ấy là thầy của mình.


Nhưng này quý vị Kalama, khi nào quý vị tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là bất thiện; các pháp này là đáng chê; các pháp này bị người trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, sẽ đưa đến bất hạnh khổ đau’, quý vị hãy từ bỏ chúng".


- "Này quý vị Kalama, đừng tin vì nghe truyền khẩu, đừng tin vì đó là truyền thống, đừng tin vì nghe đồn đại, đừng tin vì được ghi trong kinh điển, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì suy diễn, đừng tin vì đã tư duy trên mọi lý lẽ, đừng tin vì dựa theo ý kiến đã được cân nhắc, đừng tin vì vị ấy có vẻ có uy quyền, đừng tin vì nghĩ rằng vị ấy là thầy của mình.


Nhưng này quý vị Kalama, khi nào quý vị tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là thiện; các pháp

Read More

Thể loại
Uncategorized

Level & Class

12
MASTER
 
 
Số lần cộng|trừ: 0 lần