|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

Như Hương

Phương pháp tu tập Mật tông

Rate this Entry
Trích dẫn Gửi bởi Ngọc Quang Xem bài viết
6. Sự vĩ đại của Mật thừa (tt).

Rút ra từ xác định về tự tính không (emptiness of one’s own inherent existence) của các pháp, tâm thức tự nó hiển hiện ra nơi khuôn mặt, tứ chi của các Hoá thân. Trí huệ nhạy bén hiển hiện như trong Ứng hoá thân và ngay cùng lúc xác định bản chất vô tự tính của nó. Hai tướng trạng nầy–trí huệ nhận biết bản chất vô tự tính và bản tâm của Thiên thần du-già (deity yoga)–là một thể duy nhất, nhưng nó được xem như là khác nhau từ quan niệm riêng của từng đối tượng. Thế nên, từ quan niệm quy ước của phương tiện và trí huệ, chúng khác nhau trong sự giao xen hiện hữu của từng thực thể. Có thể nói sự khác nhau là ngoài phương tiện ấy là phi phương tiện, và ngoài trí huệ ấy là phi trí huệ.


Dựa vào thân tướng của Ứng hoá thân, sự viên mãn của hiện hữu mà Thiên thần du-già đã phát huy bao gồm cả hai phương diện tuyệt đối và quy ước. Một số các học giả cho rằng trình hiện của tâm thức được xác lập trong Tánh không trong hình thái của Thiên thần du-già có nghĩa là thể nhất tâm nầy có Tánh không như là thể ẩn mật và Ứng hoá thân là thể hiển bày. Như vậy, thức tâm có một yếu tố khẳng định–nhận biết bản chất vô tự tính–và một yếu tố thể hiện–sự phản chiếu sinh động của Ứng hoá thân. Theo cách nầy, sự viên mãn của Thiên thần du-già có hai phương diện, về mặt tuyệt đối là Tánh không–và về mặt quy ước, chính là Ứng hoá thân.


Trong sự giải thích qua kinh luận, có hai hệ thống hoặc cho rằng hiện tượng được thẩm định bởi Tánh không trình hiện trong tâm nên liền cho đó là không (śūnya). Còn hệ thống khác cho rằng một đối tượng được phẩm định do bởi tính chất của nó là không (śūnya) qua quá trình suy luận về Tánh không (śūnyatā) của nó, và người khác lại cho rằng sự hiện hữu của một đối tượng khi nó không còn tồn tại nữa một khi Tánh không (śūnyatā) của nó được nhận ra. Trong tác phẩm Bồ-đề đạo thứ đệ quảng luận[2] của Tông-khách-ba, cho rằng các hiện tượng được phẩm định bằng Tánh không được trình hiện qua tri thức suy luận nhận thức về Không, nhưng trong một số kinh điển thì đưa ra vấn đề ngược lại. Dù sao, ban sơ hành giả thiền quán về Không, và sau đó, trong lĩnh vực liện tục khẳng định Tánh không của tâm, hành giả tin rằng mình đã vận dụng tâm nầy nnhư là nền tảng của mọi trạng thái. Ngay lúc đó, ý tưởng về cái ‘tôi’ được định rõ trong một chủ thể an tịnh–Hộ thần (deity), và khách thể, môi trường, cảnh giới chung quanh–là sự rực rỡ viên mãn của Ứng hoá thân. Hành giả tu tập sự viên mãn nầy, càng giảm trừ ý niệm các hiện tượng hiện hữu với thể tính riêng biệt như là cội gốc của luân hồi sinh tử càng nhiều càng tốt.


Hợp thể phương tiện và trí huệ nầy–chân thể của pháp không–deity empty, cũng giống như huyễn mộng–là một phủ định của xác định, phủ nhận sự hiện hữu trên cơ sở tự tính cũng như một tướng trạng thực hữu. Hành giả dần dần trở nên quen thuộc với tâm nầy, và cuối cùng khi đạt đến giai vị cao nhất trong Thành tựu vị như đã được giải thích trong Vô thượng Du-già Tantra, sự hợp nhất của bậc trí giả được thành tựu trong sự tương tục của Sắc thân Phật và Pháp thân Phật được biến thành hiện thực. Đây là một ‘Sắc thân’ do tu tập và tâm giác ngộ sáng suốt của cực quang (clear light), vốn là nhân chính yếu chân thực của Phật tính.


Thế nên, Mật thừa khác với Ba-la-mật-đa thừa qua phương pháp siêu việt để thành tựu Sắc thân. Chỉ thiền quán về sắc thân của Hộ thần – divine body mà không liên hệ với thiền quán về Tánh không thì chưa đủ, vì các chi phần của trí huệ chưa được hoàn chỉnh. Mặt khác, chỉ thiền quán về Tánh không thôi chưa đủ. Thậm chí không thể đạt Phật quả do chỉ dựa vào Ba-la-mật-đa thừa, dù chính Ba-la-mật-đa thừa vạch ra con đường để đạt đến Phật quả. Nếu hành giả nhiệt tâm tu tập hai pháp môn nầy, thiền quán về Tánh không và thực hành các phương pháp như đã được giải thích trong Ba-la-mật-đa thừa, thì có thể nói rằng hành giả ấy sẽ thành tựu quả vị Phật sau vài vô lượng kiếp chứ không thể nào thành Phật một cách nhanh chóng được. Thực vậy, hành giả không thể nào thành Phật thông qua nhân địa mà không có một công hạnh tương ưng với quả địa là một Sắc thân. Nói vắn tắt, Sắc thân Phật–Phật thân được thành tựu thông qua thiền quán về thân ấy. Hành giả có thể thiền quán về thân của Hộ thần (divine body) cho đến khi các đặc tướng của thân nầy trở nên rõ ràng và thường hiển hiện. Cho đến khi hành giả tưởng như có thể xúc chạm vào thân ấy được bằng tay mình và có thể thấy được bằng mắt mình. Có người nghĩ rằng trong Ba-la-mật-đa thừa, hành giả tu tập để có Sắc thân Phật thông qua quán tưởng bao gồm cả tụng kinh cầu nguyện để đạt được điều ấy. Tuy nhiên, nếu đó là điều có thể, thì hành giả không cần phải thiền quán về Tánh không để thành tựu Pháp thân Phật; pháp quán tưởng bao gồm cả tụng kinh cầu nguyện sẽ có hiệu quả. Phật quả được thành tựu qua pháp Du-già hiển mật bất nhị[3]; không có pháp ấy, thì Phật tính không thể nào đạt được.


Điều xác quyết nầy không chỉ có trong Vô thượng Du-già Tantra mà còn trong cả ba Tantra kia. Pháp thân trong Hành Tantra (Performance Tantra) và Tác Tantra (Action Tantra), là điều được xem là hoàn toàn thanh tịnh trong ý nghĩa siêu việt mọi ý niệm nhị nguyên vi tế, pháp ấy được thành tựu thông qua pháp Tương ưng vô tướng (yoga of signlessness)–thiền quán về Tánh không; và Sắc thân, vốn được xem là ‘thanh tịnh’ trong ý nghĩa liên quan với nhị nguyên tính, được thành tựu thông qua pháp Du-già hữu tướng Thiên thần Du-già. Trong Du-già Tantra thì Thiên thần Du-già ( deity yoga) được trình bày qua sự liên kết với năm yếu tố, được gọi là Năm điều minh giải (five clarifications).


Pháp Du-già hiển mật bất nhị nầy là con đường tu tập cho mọi hành giả chính của Kim cang thừa, nhưng không nhất thiết dành cho mọi hành giả thuộc Kim cang thừa. Vì đối với những ai không thể tin rằng chính mình vốn có một vị Hộ thần–Bổn tôn (deity), thì sự quán tưởng về một vị Hộ thần–Bổn tôn ở trước mặt mình sẽ được đặt ra kết hợp với việc trì tụng thần chú (tantra) và cầu nguyện. Hành giả chính của Kim cang thừa được truyền dạy là những người có năng lực thực hành trọn vẹn Mật thừa, và chính mình tự phát tâm như một vị Phật là điều dứt khoát sẽ được dạy cho Hành giả chính của Kim cang thừa. Phương thức thiền quán để thành tựu các phương tiện thiện xảo, như kỹ thuật thiền quán về khí (prāṇa), là tất cả những gì dành cho hoặc là làm cho pháp Thiên thần Du-già (deity yoga) kiên cố hơn hoặc là tăng trưởng lớn mạnh sự thể nhập vào chân như.

Submit "Phương pháp tu tập Mật tông" to Digg Submit "Phương pháp tu tập Mật tông" to del.icio.us Submit "Phương pháp tu tập Mật tông" to StumbleUpon Submit "Phương pháp tu tập Mật tông" to Google

Thể loại
Uncategorized

Comments

Trackbacks

Total Trackbacks 0
Trackback URL: