|| Hướng dẫn gửi bài ở Trang Chủ Diễn Đàn |||| Lưu niệm Thành Viên|| Lấy lại password đã quên || || Đăng ký vào danh sách Cộng Tác Viên Tình Nguyện Diễn Đàn ||
|| Danh Sách Thành Viên Ban Điều Hành nhiệm kỳ II (2013-2014) ||
Love Telling Không có thông điệp!

Recent Blogs Posts

  1. Gốc của Khổ Vui

    Trích dẫn Gửi bởi KimLien Xem bài viết
    Gốc của Khổ Vui

    Luận Phân biệt công đức có chép lại câu chuyện như sau: “Có một vị Tỳ-kheo tu tập thiền quán trong vùng chôn cất tử thi. Một đêm nọ trong lúc vị Tỳ-kheo đang quán bất tịnh nơi các tử thi thì từ đâu xuất hiện một con quỷ đói. Con quỷ trông thật gớm ghiếc đi đến một tử thi và đánh tử thi với vẻ căm giận, vị Tỳ-kheo trông thấy thế hỏi:
    - Tại sao lại đánh tử thi đó?
    Con quỷ đáp:
    - Tử thi này làm khổ tôi như vầy nên tôi đánh nó.
    - Ngươi nói thế nghĩa là sao? Vị Tỳ-kheo ngạc nhiên hỏi.
    - Tử thi này là thân xác của tôi lúc còn sống. Vì nó mà tôi tạo tác biết bao ác nghiệp để bây giờ phải chịu khổ thế này.
    Nghe con quỷ nói thế, vị Tỳ-kheo bảo:
    - Sao không đánh tâm của ngươi, đánh tử thi nào có ích gì?
    Một lúc sau có một thiên nhân đến rải hoa trời Mạn-đà-la lên một tử thi khác. Vị Tỳ-kheo ngạc nhiên hỏi:
    - Vì cớ gì rải hoa lên tử thi hôi thối ấy?
    Vị thiên nhân đáp:
    - Tôi nhờ tử thi này mà được sinh lên cõi trời. Tử thi này là bạn lành của tôi, cho nên tôi đến rải hoa báo đáp.
    Vị Tỳ-kheo hỏi:
    - Sao lại nhờ tử thi này mà được sinh thiên?
    Vị thiên nhân đáp:
    - Tử thi này là thân xác của tôi lúc còn sống. Nhờ có nó mà tôi tu phước, tạo nhiều thiện nghiệp, nên sau khi chết được sinh lên cõi trời.
    Vị Tỳ-kheo lại nói:
    - Sao chẳng đem hoa rải trong tâm mình, lại đi rải lên tử thi hôi thối? Tâm mới là cái gốc tạo thiện ác chứ đâu phải cái thân kia. Sao lại bỏ gốc tìm ngọn vậy!”.
    Nhờ có thân mà chúng ta có thể tạo nghiệp thiện hoặc ác, từ đó nghiệp dẫn dắt chúng ta vào đường vui hoặc khổ. Tuy nhiên, cái thân chỉ là công cụ, là phương tiện, còn động cơ tạo nghiệp, nguồn gốc bộ máy vận hành tạo nghiệp chính là tâm ý của con người. Tâm ý chỉ đạo cho thân hành động. Tâm ý sinh khởi ý niệm thiện thì dẫn dắt thân hành động thiện; tâm ý sinh khởi ý niệm ác thì dẫn dắt thân hành động ác. Trong câu chuyện trên, vị Tỳ-kheo khai thị cho con quỷ biết rằng chính vì cái tâm tạo ác nghiệp mà nó phải bị đọa làm loài ngạ quỷ. Vị Tỳ-kheo cũng chỉ cho vị thiên nhân kia biết chính nhờ cái tâm biết tạo thiện nghiệp, khéo tu tập mà được sinh lên cõi trời.
    Đức Phật dạy: “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hoặc làm với tâm ô nhiễm, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo. Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hoặc làm với tâm thanh tịnh, sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình” (Kinh Pháp cú 1, 2). Trong kinhDi giáo, Đức Phật cũng dạy: “Tâm là chủ của năm căn, thế nên các ngươi phải khéo chế phục tâm mình”. Chế phục tâm mình như thế nào? Đó là: “Không làm các điều ác, chăm làm các điều lành, giữ tâm ý trong sạch” (KinhPháp cú 183). Người tu học Phật làm các việc như tụng kinh, niệm Phật, hành thiền, bố thí, trì giới, nhẫn nhục v.v… dùng nhiều pháp môn phương tiện chẳng qua là để chế phục tâm mình, không để cho tâm mình đi hoang, không để cho tâm mình rơi vào các pháp bất thiện. Nếu không chế phục tâm mình, không lấy tâm làm nền tảng tu tập thì dù có làm bao nhiêu việc cũng không thể xem là việc làm công đức, thực hành bao nhiêu pháp môn cũng không thành tựu Phật đạo, dễ rơi vào ma sự. Người tu học Phật phải biết tâm là gốc, tâm là căn bản, phải dụng tâm chứ không phải dụng công, phải chế phục tâm mình bằng cách hướng tâm đến các thiện pháp, hướng tâm đến Nhơn đạo, Thiên đạo, Thinh văn đạo, Duyên giác đạo, Bồ-tát đạo, Phật đạo, những con đường đưa đến an lạc hạnh phúc chân thật.
    Trong kinh Bát đại nhân giác, điều giác ngộ thứ nhất của bậc đại nhân là: “Tâm là nguồn sinh ra các việc ác bất thiện, thân là rừng chứa các nghiệp, tội”. Có thể nói thân như con trâu, tâm như người chăn. Người chăn cột mũi con trâu, dắt con trâu đi đâu thì con trâu đi đó, dắt con trâu vào chỗ lúa mạ thì con trâu sẽ ăn lúa mạ làm hại ruộng đồng; dắt con trâu vào chỗ cỏ cây hoang dại, lùm bụi thì con trâu ăn cỏ cây hoang dại. Cũng vậy, nếu tâm con người hướng đến điều thiện lành, tâm dẫn dắt thân con người làm điều thiện lành thì sinh ra công đức, phước báo. Các công đức, phước báo đó sẽ vun bồi cho báo thân đời này và đời sau được tốt đẹp. Nếu tâm con người hướng đến điều ác, bất thiện sẽ dẫn dắt thân làm điều ác, tổn hại các công đức, phước lành thì bao nhiêu tội lỗi, nghiệp chướng sẽ chồng chất cho thân gánh chịu. Thân đời này và những đời sau sẽ thừa hưởng tất cả nghiệp báo mà mình đã tạo.
    Tuy tâm là nguồn gốc sinh ra các điều thiện và cũng là nguồn gốc sinh ra các điều ác, bất thiện; tâm dẫn dắt, thúc đẩy thân tạo nghiệp tốt hay xấu để rồi chiêu cảm quả báo hạnh phúc hay khổ đau, nhưng tâm chúng sinh thường hướng về điều ác, bất thiện nhiều hơn hướng về điều thiện, chính vì thế chúng sinh khổ nhiều hơn vui.
    Chính vì chúng sinh để cho tâm mình trở thành nguồn sinh ra điều xấu ác, để cho tâm
    ...
    Thể loại
    Uncategorized
  2. Phương pháp tu tập Mật tông

    Trích dẫn Gửi bởi Ngọc Quang Xem bài viết
    6. Sự vĩ đại của Mật thừa (tt).

    Rút ra từ xác định về tự tính không (emptiness of one’s own inherent existence) của các pháp, tâm thức tự nó hiển hiện ra nơi khuôn mặt, tứ chi của các Hoá thân. Trí huệ nhạy bén hiển hiện như trong Ứng hoá thân và ngay cùng lúc xác định bản chất vô tự tính của nó. Hai tướng trạng nầy–trí huệ nhận biết bản chất vô tự tính và bản tâm của Thiên thần du-già (deity yoga)–là một thể duy nhất, nhưng nó được xem như là khác nhau từ quan niệm riêng của từng đối tượng. Thế nên, từ quan niệm quy ước của phương tiện và trí huệ, chúng khác nhau trong sự giao xen hiện hữu của từng thực thể. Có thể nói sự khác nhau là ngoài phương tiện ấy là phi phương tiện, và ngoài trí huệ ấy là phi trí huệ.


    Dựa vào thân tướng của Ứng hoá thân, sự viên mãn của hiện hữu mà Thiên thần du-già đã phát huy bao gồm cả hai phương diện tuyệt đối và quy ước. Một số các học giả cho rằng trình hiện của tâm thức được xác lập trong Tánh không trong hình thái của Thiên thần du-già có nghĩa là thể nhất tâm nầy có Tánh không như là thể ẩn mật và Ứng hoá thân là thể hiển bày. Như vậy, thức tâm có một yếu tố khẳng định–nhận biết bản chất vô tự tính–và một yếu tố thể hiện–sự phản chiếu sinh động của Ứng hoá thân. Theo cách nầy, sự viên mãn của Thiên thần du-già có hai phương diện, về mặt tuyệt đối là Tánh không–và về mặt quy ước, chính là Ứng hoá thân.


    Trong sự giải thích qua kinh luận, có hai hệ thống hoặc cho rằng hiện tượng được thẩm định bởi Tánh không trình hiện trong tâm nên liền cho đó là không (śūnya). Còn hệ thống khác cho rằng một đối tượng được phẩm định do bởi tính chất của nó là không (śūnya) qua quá trình suy luận về Tánh không (śūnyatā) của nó, và người khác lại cho rằng sự hiện hữu của một đối tượng khi nó không còn tồn tại nữa một khi Tánh không (śūnyatā) của nó được nhận ra. Trong tác phẩm Bồ-đề đạo thứ đệ quảng luận[2] của Tông-khách-ba, cho rằng các hiện tượng được phẩm định bằng Tánh không được trình hiện qua tri thức suy luận nhận thức về Không, nhưng trong một số kinh điển thì đưa ra vấn đề ngược lại. Dù sao, ban sơ hành giả thiền quán về Không, và sau đó, trong lĩnh vực liện tục khẳng định Tánh không của tâm, hành giả tin rằng mình đã vận dụng tâm nầy nnhư là nền tảng của mọi trạng thái. Ngay lúc đó, ý tưởng về cái ‘tôi’ được định rõ trong một chủ thể an tịnh–Hộ thần (deity), và khách thể, môi trường, cảnh giới chung quanh–là sự rực rỡ viên mãn của Ứng hoá thân. Hành giả tu tập sự viên mãn nầy, càng giảm trừ ý niệm các hiện tượng hiện hữu với thể tính riêng biệt như là cội gốc của luân hồi sinh tử càng nhiều càng tốt.


    Hợp thể phương tiện và trí huệ nầy–chân thể của pháp không–deity empty, cũng giống như huyễn mộng–là một phủ định của xác định, phủ nhận sự hiện hữu trên cơ sở tự tính cũng như một tướng trạng thực hữu. Hành giả dần dần trở nên quen thuộc với tâm nầy, và cuối cùng khi đạt đến giai vị cao nhất trong Thành tựu vị như đã được giải thích trong Vô thượng Du-già Tantra, sự hợp nhất của bậc trí giả được thành tựu trong sự tương tục của Sắc thân Phật và Pháp thân Phật được biến thành hiện thực. Đây là một ‘Sắc thân’ do tu tập và tâm giác ngộ sáng suốt của cực quang (clear light), vốn là nhân chính yếu chân thực của Phật tính.


    Thế nên, Mật thừa khác với Ba-la-mật-đa thừa qua phương pháp siêu việt để thành tựu Sắc thân. Chỉ thiền quán về sắc thân của Hộ thần – divine body mà không liên hệ với thiền quán về Tánh không thì chưa đủ, vì các chi phần của trí huệ chưa được hoàn chỉnh. Mặt khác, chỉ thiền quán về Tánh không thôi chưa đủ. Thậm chí không thể đạt Phật quả do chỉ dựa vào Ba-la-mật-đa thừa, dù chính Ba-la-mật-đa thừa vạch ra con đường để đạt đến Phật quả. Nếu hành giả nhiệt tâm tu tập
    ...
    Thể loại
    Uncategorized
  3. Thắc mắc kinh Pháp Hoa. Ph 2.

    Trích dẫn Gửi bởi vienquang6 Xem bài viết
    * Định nghĩa Tri kiến & Vô Sanh.

    Kính ĐH VO-NHAT-BAT-NHI.

    Có lẽ chúng ta nên nêu lên khái niệm về 2 đề tài: Tri kiến Phật và Vô sanh.- Để tránh tình trạng, hiểu nhầm lời nói của nhau.

    1/. Về Tri kiến Phật: kinh Pháp hoa nói “ Chư Phật Thế Tôn duy nhất dĩ nhất đại sự nhân duyên cố, xuất hiện ư thế ” (Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà thị hiện xuất hiện trong đời). “ Duy dĩ Phật chi tri kiến, thị ngộ chúng sanh” (Chỉ là đem tri kiến Phật chỉ bày, giác ngộ chúng sanh)."

    * Tri kiến Phật, là gì ?.- Đó là "Tri kiến vô kiến", nghĩa là thấy biết, mà không chấp mắc vào sự thấy biết.

    Kinh Lăng Nghiêm nói “Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn”, cái “Lập tri” ấy tức là tự tri.

    Thế gian nói “Tri”, nói “Kiến” ấy là thế lưu bố tưởng, Phật cũng nói là tri là kiến , nhưng không có chấp cái tri ấy là thật, nên chẳng có lập tri, nên nói “Tri kiến vô kiến, tư tức Niết bàn”.

    Nay do tập khí từ lâu đời, chúng ta việc gì cũng muốn tri, muốn kiến, Phật muốn thuyết pháp độ chúng sanh cũng phải tùy thuận chúng sanh,cũng phải nói tri, nói kiến, nhưng không chấp đó là thật; hễ chấp thật tức tự lập cái tri, là căn bản của vô minh, nếu không kiến lập tức Niết bàn.

    * Như vậy, trong 3 tầng bậc tri kiến: Tưởng tri, Thắng tri, và Liễu tri. Tri kiến Phật tức là Liễu Tri đó.

    2/. Về Vô Sanh. Có 2 trường hợp: Quả Vô Sanh và Tự Tánh Vô Sanh.

    * Quả Vô Sanh, là quả vị của các vị A - La - Hán chứng đắc (ở đây chúng ta không bàn đến).

    * Tự Tánh Vô Sanh. Đây là Thật Tánh, Thật tướng, của tất cả các pháp , là Phật Tánh của tất cả chúng sanh.- vốn nó là Vô sanh, nhưng do tri kiến chúng sanh (tưởng tri) mà chúng ta không thấy được. Nay chúng ta học theo Phật, phải dùng quán trí (Thắng Tri), dùng Tri kiến Phật (liễu tri), mà nhìn để thấy bản chất Vô Sanh của các pháp.

    Mục tiêu của việc thảo luận là như thế.

    Mến.
    Thể loại
    Uncategorized
Trang 1 của 133 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 51 101 ... CuốiCuối